Bảo Giang-Vận động sức mạnh kinh tế để triệt hạ Cộng sản.

Xem cho biết. Những con số như 10 tỷ MK, tôi không biết tác giả dựa vào đâu. Tuy thế, điều hiển nhiên ai cũng biết là quý vị không nên về VN du lịch quá nhiều nhất là quý vị cựu quân nhân.
HNA

****************************

Vận động sức mạnh kinh tế để triệt hạ Cộng sản.
1. Những con số chỉ ra mãnh lực của đồng tiền.

Để biết rõ sức mạnh của đồng tiền chi phối nền kinh tế và chính trị ra sao, mời quý độc gỉa đọc qua những con số:

a. Hối xuất trưóc 1975

• Hối suất đồng bạc VN được quy định vào năm 1953 là: 1 đồngVN = USD 0,2857, tức là 1MK = 35 đồng.. Hối suất chính thức sang thập niên 1960 tăng thành 1MK = 73,5 đồng trong khi giá thị trường ở khoảng 1 MK = 130-180 đồng.. Năm 1966 hối suất tăng thành 1 MK = 80 đồng. Tỷ lệ này giữ nguyên cho dù tình hình kinh tế suy thoái. Gía một ký gạo thời Đệ nhất cộng hòa năm 1956 là $4,60/một ký. Và một ngày công của thợ không có tay nghề là $51.o. Năm 1963 là $5,20/ một ký. Lương thợ không có y tay nghề là $75.00/ một ngày. Trung bình lương ngày mua được hơn 10 ký gạo.

• Tháng Mười năm 1970 chính phủ cho điều chỉnh lại hối suất chính thức, 1MK = 275 đồng, Năm 1972 kinh tế càng khó khăn cùng lúc chiến cuộc khốc liệt trong Mùa Hè Đỏ Lửa,. Hối suất tăng vụt lên thành 1 MK = 550 đồng.. Đến năm 1975, năm cuối cùng của chính thể Việt Nam Cộng hòa thì 1 MK = 700 đồng.(wikipedia) Gía một ký gạo năm 1964 là $5.50 và lương thợ không chuyên là $81.0/ 1ngày. Giá một ký gạo là $170.00 vào cuối năm 1974 và lương thợ không tay nghề là $1039/ một ngày. Lương một ngày vẫn mua được hơn 10 ký gạo. Năm 1974 bị giảm xuống còn hơn 8k gạo.

Có thể nói đây là thời kinh tế vàng son của Việt Nam trong gần một trăm năm qua, mặc dù vào thời gian đó, ngưòi miền nam đang vướng vào chiến tranh chống cộng sản tràn xuống từ phương bắc theo chủ thuyết bành trướng của Bắc Kinh do HCM lãnh đạo và nhận tiếp tế. Vào lúc đó, HCM đã hồ hởi tuyên bố nhắng lên là: “Đánh Mỹ đến người VN cuối cùng thì cũng đánh”! Ở Miền bắc, có ai biết đó là lệnh của Tàu đỏ mà HCM phải thi hành? Riêng trong Nam thì chính phủ và người dân đã biết rõ chuyện này. Hơn thế, họ còn biết là HCM đánh miền nam mở lối cho Tàu tràn xuống phương nam. Tuy thế, người miền nam dù trong chiến đấu, vẫn có của ăn của để và Sài Gòn được coi là Hòn Ngọc Viễn Đông. Sài Gòn lúc đó là niềm mơ ước của Thái Lan, Mã Lai và các nước trong vùng Đông Nam Á.

b. Hối xuất sau 30-4-1975.

• Sau khi vào đươc miền nam bằng vũ khí của Nga- Tàu, Vào tháng 9-1975 Việt cộng đã thực hiện cuộc đổi tiền đầu tiên tại miền nam VN. Họ đã quy định một cách rất máy móc, “lên mặt” với miền nam là 500 đồng tiền Sài Gòn cũ ăn 1 đồng tiền Hồ. Hôm ấy tập đoàn Việt cộng từ rừng vào thành phố đã vô cùng phấn khởi. Sau màn thi đua vơ vét tài sản của miền nam đưa về bắc, họ đã lên mặt với đồng bào trong nam bằng bài xã luận theo kiểu gío tanh đăng trên tờ Sài Gòn bị gỉai phóng như sau: ““ Miền nam đã có một nền tiền tệ mới, khai sinh từ sự độc lập toàn vẹn của sứ sở” . Nó đã kết thúc “30 năm sống dơ và chết nhục của đồng bạc Sài Gòn”. Mỉa mai thay, gía gạo năm 2006 là $6,285/ một ký. Lương công nhân $32,000/ một ngày. Giá gạo năm 2012 là $22,000/1 ký,lương công nhân dao động từ $95,000-105,000/ một ngày. Trung bình mỗi ngày mua được 5 kg gạo!

37 năm sau cái ngày họ phùng mang trợn mắt lên với người miền nam, không biết đảng và nhà nước Việt cộng còn dám hãnh diện về thành qủa kinh tế và về đồng tiền mà họ gọi là “ khai sinh từ sự độc lập toàn vẹn của sứ sở” nữa hay không? Hay nó chỉ còn là một chuỗi ô nhục vì cấp lãnh đạo mà trình độ văn hóa, học vấn được đào tạo chuyên bằng phương cách đếm các bát mủ cao su, đếm các ống chích và thuốc ký ninh ở trong rừng. Thành phần này, với khả năng cầm búa, cầm mã tấu gọn nhẹ hơn cầm bút đã biến đồng tiền Hồ hôm đó, trị gía bằng 500 đồng tiền miền nam bằng 5/7 tiền mỹ ( tính vào khoảng $0,71US) hoặc1MK= 1,40 tiền Hồ, thành một thứ tiền rác trong nền kinh tế với tý gía hối xuất niêm yết tại Việt Nam trong tuần cuối tháng 12/2012 là 1MK= $21,000.00 đồng tiền Hồ . Ô hô, hai mươi ngàn tiền Hồ bằng một đô tiền Mỹ! Người Việt Nam đã phục chưa nào?

Với hối xuất hiện tại, chúng ta có một bài toán về số tiền mà người Việt hải ngoại đã gời về, đem vào Việt Nam hàng năm, riêng năm 2012 những con số được ghi nhận là:

1 MK = 21,000.00 đồng tiền Hồ.
1 triệu MK = 21,000 triệu tiền Hồ
1 tỷ MK = 21,000 tỷ đồng tiền Hồ
10 tỷ MK = 210,000 tỷ đồng tiền Hồ.

10 tỷ MK hay 210 ngàn tỷ dồng VN là một con số khủng khiếp. Ngay chính phủ HK, BV cũng như chính quyền ở miền Nam trước năm 1975 không bao giờ dám nghĩ đến nó. Bởi lẽ, trong Hiệp Định Paris về Việt Nam, các chính phủ này cũng chỉ dám nhìn, dám ghi vào con số là 3,2 tỷ MK sẽ được Hk viện trợ cho VN để tái thiết đất nước sau chiến tranh. Kết qủa, số tiền này không được tháo khoán vì CS bắc việt phá vỡ bản hiệp định Paris về VN. Vì không có tiền, nó gây ảnh hưởng trực tiếp lên đời sống kinh tế VN khiến cả nước ăn độn khoai mì, ăn bo bo vào những năm 1977-78. Nay xem ra là vật đổi sao dời, người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại, mà trước đó là Phạm văn Đồng và sau là Nguyễn cơ Thạch đã định nghĩa về những người đi tìm tự do, “ thuyền nhân” này như sau: “ “thuyền nhân” chỉ là “những phần tử bất mãn của chế độ cũ, những kẻ có nợ máu với nhân dân, những thành phần đĩ điếm, trốn tránh lao động”. lại trở thành những ngưòi “viện trợ” không điều kiện cho Việt Nam, mà kẻ thủ đắc lợi nhuận nhiều nhất lại là những quan cán trong hàng ngũ Việt cộng từ trung ương đến địa phương, chứ không phải là thân nhân của mình! Thật là nghịch lý. Và còn hơn cả nghịch lý. Họ viện trợ không phải chỉ có 3,2 tỷ MK, nhưng mỗi năm là gấp ba lần con số 3.2 tỷ MK ấy!

10 tỳ MK hay 210 ngàn tỷ đồng tiền Hồ này nó đi đâu và ở đâu? Nó sẽ ảnh hưởng như thế nào vào nền kinh tế của VN? Câu trả lời đơn giản và ngắn gọn nhất là nó trở thành một vật chống lưng để cho nhà nước in thêm tiền rác tung ra thị trường. Nhưng bản thân những đồng tiền này đã nằm gọn trong trương mục của những quan cán cửa quyền. Nếu không có 10 tỷ MK này thì nền kinh tế của Việt cộng đã sụp đổ từ lâu rồi. Nói cách khác, nó là một trong những nguồn sinh lực chính yếu đã nuôi sống chế độ độc tài bạo ác này trong nhiều năm qua. Và nguồn cung cấp tài khoản này trở thành một nghịch lý chống lại ước muốn thay đổi toàn diện, triệt để cơ chế của CS đang đè nặng trên dân tộc Việt Nam. Nói toạc ra rằng: Nó giúp cho cộng sản tồn tại để tàn hại đồng bào mình và không hề giúp ích cho việc triệt hạ chế độ bạo tàn này. Tại sao? Đơn giản là ai cũng muốn triệt hạ chế độ CS tại VN. Nhưng xem ra, mọi người lại hăng say nuôi dưỡng và bao bọc nó!

2. Lòng dân với chế độ.

Với bản thân những người theo cộng, hầu hết đều nhìn nhận rằng: Trước đây, vì lý do này, lý do khác, kể cả vì nghe những tuyên truyền xảo trá của CS họ vào. Nhưng sau khi vào đảng, (giống như vào đường giây buôn lậu ma túy) họ mới biết sự thật về nó. Có khi phải đổi cả mạng sống của mình vì dao búa tranh nhau mối hàng, có khi cả bản thân, vợ con gia đình thành con tin cho tổ chức. Trong khi tổ chức thì vẫn lơ láo tanh máu, nhận hàng, kiếm lợi. Biết thế, nhưng đã trót lỡ theo, họ không có cách nào thoát ra khỏi vòng tay kiểm soát của chúng, nên đành phải nhắm mắt, bám lấy Nó. Lý do, khi ra khỏi đường giây bằng cách tự ý rút, hay bị khai trừ đều không một người nào thoát được những phương cách trả thù, thanh toán tàn bạo của tổ chức. (Trường hợp Nguyễn xuân Bách, Nguyễn đình Thi, Văn Cao, Nguyễn mạnh Tường… là những điển hình)!

Trong khi đó về phía người dân, có thể nói là không có một người Việt Nam nào không căm thù Việt cộng đến tận xuơng tủy. Không có một nguòi dân nào mà không muốn tiêu diệt chúng. Bởi chỉ khi nào nó bị tiêu diệt, người dân mới được sống và sống thành người nhân bản trong ánh sáng Công Lý, Nhân Quyền trên phần đất của mình. Kết qủa, Nó vẫn chưa chết. Trái lại, mắt Nó vẫn nhắm chặt và mồm Nó nhe ra như hàm răng chó luộc để đe dọa người sống. Nó đe dọa người sống, và người sống sợ bóng vía của nó. Nhưng thay vì tìm mọi phương cách trừ khữ nó đi, họ lại tự chọn lấy phương cách “ Nộp tiền mãi lộ cho tên cướp đứng trước cửa để được vào nhà của mình, vào trong lo âu, trong sợ hãi.”. Bạn không tin ư?

Này nhá, ( xin đừng nhìn đây là những lời chỉ trích, nhưng là những dẫn chứng cho bài viết đang xảy ra mỗi ngày, đa tạ). Trước hết, xin bắt đầu với thành phần “được tiếng” là không đội trời chung với Việt cộng. Đó là những “ông lính”, “cán bộ” của miền nam Việt Nam trước kia đang ở hải ngoại. Hỏi xem, còn được mấy “ông” chưa về Việt Nam? Hỏi xem, nếu họ chưa về thì vợ con họ đã về du lịch bao nhiêu lần rồi? Hỏi xem hàng năm, họ hoặc người trong nhà, với hàng trăm thứ lý do khác nhau, đã gởi bao nhiêu tiền về Việt Nam? Tệ hơn, có khi còn đi vay mượn tiền ở ngân hàng để đem về, gởi về nhờ thân nhân gởi vào ngân hàng tại VN để kiếm lợi nhuận cao hơn? Làm thế có phải là ta nuôi vỗ béo Việt cộng tiếp tục hại dân ta không? Đừng bảo rằng mình chỉ gởi về cho thân nhân một dúm tiền nhỏ để sông qua ngày thôi, còn khi về thì cũng chỉ tiêu 5, 10 ngàn đô, trong lúc chúng giàu qúa đỗi rồi, cần chi đến đồng tiền của người Việt ở Hải ngoại gởi về. Điều ấy không sai, một người thì ít, vài, ba triệu người góp lại thì qúa nhiều. Theo đó, nếu trong tay chúng có hàng tỷ đô la gởi trong các trương mục, hay mua bất động sản tại hải ngoại là do chính tiền bằng mồ hôi, nước mắt của “quý ông” gởi về, đem về du lịch, giúp cho chúng giàu lên như thế đấy.

Phía dân sự ra đi trước ngày 30-4-1975, hay vượt biên, vượt biển cũng vậy. Tiếng oán vọng thâm thù cộng sản của họ đã cao ngút tận trời xanh. Nhưng lại bằng muôn ngụy luận kiểu Tôn thọ Tường cho mình và vì mình. Họ đã bất chấp sinh mệnh đân tộc để nuôi sống kẻ thù của dân tộc qua những vụ chuyển tiền, du lịch, đầu tư về Việt Nam. Kể cả việc dâng “ kiến nghị “ cho Việt cộng. Hành động này đã tạo nên muôn cảnh thống khổ cho những người ở quê nhà. Cuộc sống đã khó khăn với thóc cao gạo kém, nay giá sinh hoạt còn vùn vụt tăng lên. Căn nhà, miếng đất nhỏ trở thành giấc mộng trên mây. Được sinh ra và sống ngay trong quê hương của mình mà có khi cả đời không có đủ tiền để mua, hay dựng lấy một căn nhà nhỏ trên năm bảy chục, hay một trăm mét vuông đất. Nhìn cảnh khốn cùng ấy, có ai mà không rơi nước mắt? Trong khi ấy, Việt kiều về khoác tay Việt cộng nghiêng ngửa, vung tiền ra, sống giữa chợ mà như giữa chốn cung đình với đầy đủ mọi cung phụng. Tại sao lại có lắm nghịch cảnh thế? Tại cộng sản tàn bạo dã man hay tại ta tiếp tay cho chúng giết hại nhân dân từng giờ từng phút. Và tiếp tay cho chúng phá nát nền đạo lý và văn hóa nhân bản của dân tộc ta? Đã đến lúc chúng ta phải tự đấm ngực mình mà ăn năn, mà bảo rằng: Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng chưa?

Có lẽ đã đến lúc rồi đấy. Bởi vì hàng năm ngân sách của tập đoàn phi pháp này được chúng ta tặng nhưng không ít nhất 10 tỷ Mỹ kim, tính sang tiền Hồ là 210 ngàn tỷ đồng. Nhờ tiền của ta, chúng có thêm phương tiện mà chi vào những chuyện phản dân hại nước. Dĩ nhiên, nó không có chi tiết sổ sách để chúng ta có thể trưng ra bằng cớ. Nhưng dứt khóat nó không được tính toán trong tiến trình xây dựng đời sống kinh tế dài hạn cho quốc dân. Nó cũng không là động cơ để thúc đẩy “ con buôn phi pháp” nới lỏng đời sống sinh hoạt chính trị, xã hội, tôn gíao cho người dân như người ta kỳ vọng. Trái lại, nó chỉ được coi là một thứ tiền nóng để họ vơ vét thêm tiền của, tài sản của tư nhân hay của đất nước ở trong nước, rồi tráo đổi theo hệ thống để chuyển tất cả những ngoại tệ ấy vào trong các trương mục bí mật của các cá nhân lãnh đạo ở hải ngoại. Rồi tạo ra một thị trường đầy tiền rác và đà lạm phát tăng cao làm đời sống kinh tề của quốc dân ngày càng cơ cực, và có thêm nhiều dân oan vì một bài toán khá đơn giản, gọn nhẹ như :

– Chi một phần cho ngành công an để thuê thêm đầu gấu, thành phần bất hảo, tăng quân hàm để dùng trong những trường hợp trấn áp đồng bào. Rồi thêm quỹ đen, tưởng thưởng, thăng cấp, thêm lợi cho thành phần này để biến “ công an nhân dân” thành tổ chức đầu gấu, lực lượng bảo kê cho đảng cộng đứng vững mà tiếp tục làm ăn chia chác lợi nhuận cho nhau.

– Một phần dành cho quỹ đen để đãi ngộ cho nhiều thành viên trong ngành an ninh, và trong quân đội để mua chuộc, cho ngành này có nhiều mối lợi để tránh khỏi một tai họa “ quân đội nhân dân” vì nhân dân vì tổ quốc mà diệt lũ bán nước, thờ tầu.

– Một phần cho việc bảo trợ, tăng thêm trợ cấp cho các sổ hưu của các đảng viên, cho người vừa mất nguồn lợi vì nghỉ hưu để tránh mọi phiền toái đâm sau lưng đảng vì mất lợi lộc khi mất quyền.

– Một phần chi cho việc tuyên truyền xảo trá và ngoại vận

– Phần còn lại được định hướng vào trong sổ “ bỏ chạy” là các cấp lãnh đạo chóp bu, phe nhóm. Để từ đó, tay trong tay ngoài móc ngoặc với các tỉnh, thành phố mở ra các khu “ quy hoạch” cưỡng chế đất của nhân dân với gía bùn. Sau đó bán lại với gíá vàng, gấp trăm, gấp ngàn lần gía mua để vơ vét thêm tiền của nhân dân chia chác cho nhau. Tạo nên cơn sốt địa ốc gỉa tạo, bùng nổ ngân hàng vốn khống và tăng thêm số dân oan trên diện cả nước

Với bài toán này, dù không cần nói ra , ai cũng biết, nếu tập đoàn cộng sản hàng năm không còn thu vảo được ít nhất 10 tỷ đô la của đồng bào từ hải ngoại gởi về , dứt khoát, chúng không thể tồn tại. Hỗn loạn kinh tế sẽ xảy ra và dẫn đến việc sụp đổ của đảng cầm quyền phi pháp này.

Kế đến là phần những người ở trong nước, nó mới đau thương ngặt nghèo làm sao? Làm ra đồng tiền đã khó, nhưng ôm một mớ tiền Hồ qua đêm còn toát mổ hôi hơn. Muốn đầu tư kinh doanh thì không phe nhóm không đảng tịch. Muốn mua vàng, ngoại tệ để giữ làm của cũng trăm nghìn khó khăn. Để ở nhà phần sợ trộm đạo, phần vì cái Nghị Quyết 11CP-NQ về việc kiểm soát và cấm buôn bán vàng và ngoại tệ trong thị trường tự do. Lỡ ra là bị bắt, bị tịch thu “ tang chứng” vì cái nghị quyết này. Kết cuộc, đành phải ôm đống tiền rác là mồ hôi nước mắt của mình vào ngân hàng mà gởi. Khi gởi, họ biết trước là nó cũng thành rác vì lạm phát, nhưng chết đuối với lấy nước bọt. Hơn thế, nếu sáng hôm sau chúng ra lệnh đổi tiền có giới hạn cho tư nhân ở ngoài, thì hy vọng tiền đã gởi vào ngân hàng sẽ được đổi, hóa giá thành tiền mới. Trường hợp giữ ờ nhà là trắng tay, bài học đổi tiền năm nào vẫn còn đó, ai cũng nhớ. Theo đó, ai cũng biết đem đồng tiền của mình bỏ vào ngân hàng nhà nươc Việt cộng là lợi bất cập hại, nhưng không còn một phương cách nào khác.

Bảo là không còn một phương cách nào khác vì ở Việt Nam hiện nay dân chúng đang phải sinh hoạt trong nền kinh tế theo định chế xã hội chủ nghĩa. Một định chế mà lúc gần đây nhà nước và quan cán Việt cộng hồ hởi gọi là nền “Kinh Tế Vĩ Mô”. Đây là một nền kinh tế có một không hai ở thế kỷ 21. Một nền kinh tế mà mới đây, trong cuốn BTC của nhà báo Huy Đức, là ngưòi đầu tiên trong hàng ngũ được giáo dục rất cơ bản của CS về tính chuyên trong nghệ thuật tuyên truyền và sáng tác, đã tự mình, hay được chỉ đạo viết ra, công bố trước công luận trong nước và ngoại quốc, một nguyên tắc căn bản, là nền tảng của nền Kinh tế Vĩ Mô của nhà nước Việt cộng chỉ dựa trên vỏn vẹn có một chữ duy nhất. Đó là chữ Cướp. Cướp từ mặt công cho đến mặt tư. Từ hàng hóa, sản phẩm cho đến bất động sản cũng như tinh thần của người dân, hay là của đất nước.

Theo sách, tôi gọi đây là nền kinh tế Vĩ Mô Việt cộng vì nó theo một chủ trương duy nhất từ thời HCM cho đến nay. Nó chỉ có vỏn vẹn có một chữ Cướp và chữ dối trá, ngoài ra không còn một sách lược nào khác. Bằng chứng, Huy Đức một thành viên Việt cộng đã được gặp rất nhiều người trong hàng ngũ chóp bu của nhà nước từ trước đến nay, rồi chi tiết trình bày từ chương 2, chương 3,4. Trong các mục Cải tạo, Tù đến đổi tiền, đánh tư sản mại bản, cải tạo công thương nghiệp, cho đến Nạn Kiều, có đến mấy chục trang sách, nhưng đọc gỉa có đọc đi đọc lại cũng chỉ thấy duy nhất có một chữ Cướp làm nền tảng cho nền kinh tế và chính trị của nhà nước này. Dĩ nhiên, đó là hướng đi chủ đạo từ thời HCM, nó đã được thực hiện trên toàn đất bắc từ thời 45 đến 75 và sau 1975 nó có dịp đem ra áp dụng tại miền nam. Theo đó, chữ Cướp nó xuất hiện rất ngọt ngào, rất trơn tru trong những lời phát biểu của hàng quan cán lãnh đạo, trong báo chí cũng như trong các báo cáo hội nghị cho đến cấp thi hành. Xem ra, khi trình bày về sách lược này, không một ai trong họ là bị vấp váp ngượng ngập. Và kinh hãi hơn cả là chủ trương của nhà nước Việt cộng được Nguyễn Hộ, một công thần khai quốc của họ đã công khai hóa đường lối của tổ chức trước công luận là: “Đối với bọn Ngụy quân, Ngụy quyền, nhà của chúng: ta ở; vợ của chúng: ta xài; con của chúng: ta bắt làm nô lệ; còn bọn chúng nó: ta giam cho đến chết!” Thật sự là khó tìm cho ra một thứ ngôn ngữ nào dã man, vô luân hơn thế.

Ở đây, tôi khôg khen không chê gì về cuốn BTC, tôi chỉ nhắc đến nó như là một bằng chứng cho thấy, người của họ trình bày về chính sách kinh tế vĩ mô của họ thì dĩ nhiên, nó phải đạt tiêu chuẩn hơn những người khác. Riêng cuốn sách này, nó còn đạt trình độ tinh tế, hoàn hảo để bất cứ một người nào đọc cũng đều thấy cái chữ Cướp nó đập vào mắt. Tuy nhiên, Huy Đức chỉ mở ra bước dạo đầu mà thôi. Thực tế của nển kinh tế vĩ mô Việt cộng mà tập đoàn cộng sản từ HCM cho đến NT Dũng hôm nay đem ra áp dụng còn tồi tệ hơn chữ Cướp buổi đầu kia gấp nhiều ngàn lần. Bởi vì nó không phải chỉ có một chữ cưóp lẻ loi, nhưng là gồm một bộ chữ được nghiên cứu và xây dựng là: Cướp Toàn Diện. Cướp Toàn Diện mới chính là hướng chủ đạo của nền kinh tế vĩ mô Việt cộng. Một nền kinh tế dựa trên căn bản văn hóa rừng, theo “đạo đức kinh” dối trá của Mác Lê. Nên sau 80 mươi năm xây dựng, phát triển, người dân Việt dù không muốn theo, vẫn đạt đến mức sống của thời tiền sử ở thế kỷ điện toán 21.

Tự Do: không!
Nhân Quyền: Không!
Tôn Giáo “ Không!
Công Lý: Không!
Hội họp : Không!
Tài Sản: Không! Nay có , mai thành đống rác. Nay có, mai thành “quy hoạch”
Luật Pháp: Không!
Tổ Quốc : Không, không có chủ quyền!………….

Tuy nó có nhiều chữ không phản lại cuộc sống tiến hóa và nhân bản cũa nhân loại. Nhưng nó cũng có nhiều chữ có để đưa con người vào vòng nô lệ. Mà chữ có nổi bật là Có khối nhà tù và có nhiều, rất nhiều dối trá, vô đạo.

A. Sơ lược về nền kinh tế vĩ mô Việt cộng/ Khu vực tư doanh.

Trước hết, nền kinh tế Việt cộng về cơ bản chỉ là quy mô nhỏ lại không phục vụ cho nền kinh tế thị trường. Trái lại, hầu như tất cả mọi phưong diện sản xuất đều tập trung vào tay nhà nước. Chỉ có một số rất nhỏ, theo quy hoạch nhỏ là nằm trong tay của các tư nhân, doanh nghiệp nước ngoài, nhưng cũng lệ thuộc vào và bị chi phối bởi nguồn vốn, sức hoạt động từ nhà nước. Tuy thế, số lượng về ngân hàng thương mại lại bùng nổ, mọc lên như nấm. Nó nhiều đến nỗi, chính quốc hội của nhà nướcViệt cộng cũng phải đặt ra thắc mắc: “ như vậy là có vấn đề. Hệ thống ngân hàng của chúng ta cả thời gian dài cho bùng nổ ra. Có đất nước nào có ngân hàng nhiều như chúng ta không? Ngay Hàn Quốc hay Singapore, các nền kinh tế lớn ở Á Châu cũng chỉ có mấy chục ngân hàng, nhưng ở VN thì có đến hàng trăm. Như vậy là phải có vấn đề?”

Dĩ nhiên là phải có vấn đề. Cái vấn đề mà họ không dám nói ra là: Việc có qúa nhiều NGTM này là kết qủa bùng nổ của việc tranh dành ảnh hưởng, tranh quyền lợi của các nhóm đảng quyền trong đảng chia nhau số tiền từ hải ngoại gởi về, hơn là một thực tế yêu cầu. Mỗi nhóm, mỗi phe, mổi địa phương đảng quyền hay mỗi ngành, nghiệp vụ, nhóm gia đình, thậm chí cả bên quân dội cũng đẻ ra các Ngân Hàng với những đặc quyền riêng rẽ. Vì có qúa nhiều ngân hàng, lại không có chính sách thực dụng kiểm soát kinh tế, nên buộc họ phải tìm cách tăng lãi xuất để thu hút các nguồn vốn. Nhưng trong thực tế. Khi một ngân hàng này tăng nguồn lãi thì các ngân hàng khác cũng tăng lãi xuất lên theo. Việc cạnh tranh này đã đẩy lãi xuất lên cao, thêm nhiều chi phí cho ngân hàng mà lượng tiền thu vào không thay đổi. Nó không thay đỗi là vì tất cả các ngân hàng ấy hầu như chỉ trông nhờ vào số tiền của người Việt từ hải ngoại gởi về cho thân nhân, hay mang về đầu tư gỡi vào ngân hàng và số tiền tiết kiệm nhỏ gịot của ngưòi dân dành dụm ở trong nước hơn là dự trữ từ khu vực sản xuất, hay phi sản xuất với thu nhập ổn định.

Kết qủa, nguồn vốn vẫn khan hiếm hoặc rất giới hạn vì sức đầu tư không nhiệt tinh, tạo nên những tai họa là không có tài chánh cho các dự án của khu vực tư doanh vay mượn. Đã thiếu nguồn vốn, lãi xuất cho các ngành kinh doanh quá cao, thường lãi suất cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu khoảng 17 – 19%/năm, cho vay sản xuất – kinh doanh khác khoảng 18 – 21%/năm. Với tỷ lệ lãi xuất như thế, nền kinh tế đã không phát triển, trái lại còn đẩy các doanh nghiệp vào chỗ phải phá sản..Theo tin tức, hiện nay có gần 50.000 DN ngưng hoạt động; Và đã có ngân hàng thông báo mất khả năng thanh khoản…

B. Khu vực công do đảng và nhà nước quản lý.

Đây là khu vực được nhà nước, đảng quyền trực tiếp cung cấp nguồn vốn, hoặc đễ tìm nguồn vốn từ ngân hàng nhà nước chống lưng như:

1. Các tập đoàn kinh tế.

“ hiện nay nguồn vốn nhà nước đầu tư cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước chiếm đến 50%-70%. Nhưng thực tế, nguồn thu mà các đơn vị trên tạo ra chỉ chiếm được 15%-20%. “Giá trị kinh tế mà các tập đoàn, tổng công ty nhà nước tạo ra như thế là rất thấp, thậm chí làm ăn thua lỗ nữa. Nếu cứ như thế thì liệu các tập đoàn, tổng công ty có dẫn dắt nổi nền kinh tế không” (trần ngọc Vinh). Nói như thế là TnVinh vẫn đang đánh bóng cho nền kinh tế Vĩ Mô Việt cộng, vì thực tế là tất cả các tập đoàn kinh tế nhà nước là những cái nhà thủng lỗ, là nơi để ngân hàng nhà nước bơm tiền vào cho các quan cán hàng lãnh đạo và tay chân chia chác cho nhau qua cách này hay cách khác, thay vì thực dụng tạo ra nguồn sản xuất, mang về lợi nhuận cho đất nước, hay tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dân. Đó lả trường hợp của những vinashin, vinaline. Mua những con tàu hàng với gía khống, hay hàng trăm triệu đô la mà thực tế chỉ là một đống sắt vụn, bất khiển dụng. Chuyện công ty điện lực, hàng không cũng chuyên lỗ… Kết qủa, khi công việc đổ bể, bắt vài tên, thí chốt và nhân dân gánh nợ tham nhũng của chúng đến đời con cháu vẫn trả chưa hết nợ.

2. Vùng “quy hoạch”.

Nhờ tiền ngoại, việc kinh doanh bất động sản, một nguồn lợi không cần nhiều vốn nhưng có lợi nhuận gấp ngàn lần thì nằm độc quyền trong tay các lãnh đạo trực tiếp từ trung ương đến đia phương, hay phe nhóm của họ chia nhau thủ lợi. Ở trong diện này nhà nước làm sẵn nhiều văn bản “nửa vời” tạo thời cơ cho sâu mọt mở quy hoạch, cướp giật và vơ vét tài sản của nhân dân và của đất nước vào những cái bao không đáy của cửa quyền. Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 là văn bản quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Nhưng một trong những vấn đề phát sinh từ nghị định này là điều 11 quy định các trường hợp cần tiến hành, xác định lại giá đất, tạo ra cái lỗ không đáy..

Điều khoản này quy định rằng ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường để xác định lại giá đất cụ thể cho phù hợp trong 5 trường hợp gồm: (1) khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất; (2) khi Nhà nước cho thuê đất có thu tiền thuê đất; (3) khi cần có phê duyệt phương án bồi thường; (4) khi Nhà nước thu hồi đất có hỗ trợ và tái định cư; và (5) khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước tiến hành cổ phần hóa.

Ở đây có những vấn đề được đặt ra là: “Khi nhà nước giao đất” thì lấy đất ở đâu ra và giao đất cho ai? ( trường hợp Văn Giảng, TKS, Thái Hà, Vụ Bản, Đông Triều… là những thí dụ. “Khi nhà nước cho thuê đất” thì lấy đất của ai và cho ai thuê đất? “ Khi nhà nước thu hồi đất có hỗ trợ và tái định cư”. Trường hợp nào, những diện đất nào thì bị thu hồi đất? (vụ Tiên Lãng).Tất cả chỉ là những câu hỏi để ngỏ và không có câu trả lời rõ ràng, nên chính nó tạo nên việc quy hoạch đất thổ cư, đất sinh sống của dân chúng một cách bừa bãi vì lợi ích và theo yêu cầu của phe nhóm hơn là công ích. Tuy thế, nó được khoác vào bằng hai chữ “ quy hoạch” để cho các cấp thừa hành lên kế hoạch cưỡng chế. Kết qủa, tạo ra những vụ dân oan khiếu kiện không bao giời ngưng nghỉ và cũng chẳng bao giờ được giải quyềt đền bù thỏa đáng. Như thế, đây chỉ là một văn bản lửng lơ để tạo thế cho công quyền và nhóm lợi ích sân sau cướp giật, và vơ vét tài sản của công và của tư cho vào túi tham một cách mang tính hợp pháp!

Tóm lại, nền kinh tế vĩ mô theo định hướng “ Cướp Toàn Diện” của nhà nước Việt cộng, không có khả năng giúp khu vực tư doanh phát triển. Riêng khu vực công thì rất bùng nổ. Nó đẩy chủ nhân của đất nước là nhân dân và con cháu nhân dân thành những con nợ truyền đời để trả cho những thâm lạm ngân sách. Và tạo ra một đoàn thể dân chúng gọi là dân oan đi đòi đất đòi nhà trên bình diện cả nước không bao giờ ngưng nghỉ. Riêng sự giàu có của các đoàn đảng viên có quyền từ trung ương tới địa phương thì không ai có thể tính ra được nữa.

Với một nền kinh tế vĩ mô khập khiễng như thế mà nó chưa bị khủng hoảng, chưa sụp đổ là vì người dân còn tiếp tục gởi tiền vào ngân hàng, và vì ngân sách của nhà nước VC được tặng nhưng không mỗi năm hàng chục tỷ MK từ hải ngoại. Theo lối mòn vĩ mô này, nếu cộng sản sống sót qua năm, bảy năm nữa, tiền Hồ mệnh giá một triệu đồng cũng chỉ đáng gía mấy lít gạo vài cân thịt. Cả nưóc thành triệu phú hoặc tỷ phú mà có một cuộc sống như những kẻ nô lệ của thời tiền sử, riêng phần tinh thần sẽ bạc nhược hơn, và nhà nước lại phải tính đến chuyện đổi tiền. Lại 4 hay 500 cũ ăn 1 đồng mới cho bớt rác. Trong khi phần lớn đất đai, biển đảo, cơ sở hạ tầng của đất nước sẽ không còn thuộc về Việt Nam nữa. Nhưng là những mảng da beo đã thuộc về Tàu cộng mà con dân Viêt Nam không còn được bước chân tới. Những mảng da beo ấy không hẳn chỉ ở trên rừng, trên biển cả, mà ở ngay giữa phố thị! Như thế, ta có nên gởi tiền về VN nữa hay không?

C. Cấm vận. Hệ qủa của việc ngưng gởi tiền về Việt Nam.

Bao Giang

Gallery | This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s