Hoàng Lan Chi GT: Sao Khuê- Thái Bình, Quê Tôi

Hoàng Lan Chi thay mặt Sao Khuê tặng anh Văn Quang và các đồng hương Thái Bình

Thái Bình, Quê Tôi

Tác giả: Sao Khuê

LGT: Nhà Văn Văn Quang vừa viết bài về quê Thái Bình lần cuối. Một địa danh của Thái Bình được nhiều người biết đến lại là Cầu Bo. Sở dĩ Cầu Bo được biết nhiều là vì Duyên Anh đã tả thời thơ ấu của mình ở Thái Bình. Trên thực tế, Thái Bình là quê hương của “cờ lau dựng nước” Đinh Bộ Lĩnh, dẹp loạn 12 sứ quân lên ngôi Hoàng Đế. Triều đại nhà Đinh thật ngắn ngủi. Nhưng Thái Bình vẫn tiếp tục sinh sản các danh nhân: Bát Nạn Vũ Thị Thục, (Nữ Tướng của hai Bà Trưng), Bùi Viện, Kỳ Đồng, Lê Quý Đôn. Thái Bình có Chùa Keo, Đền Đình Bảng, Đền Tiên La. Nhà thơ Hoàng Cầm có lẽ khi viết bài thơ nổi tiếng Lá Diêu Bông với “Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng” là nói về Đình Bảng này chăng?

Và những năm 1940, nhà giáo Đinh Văn Lô cùng em trai, Đinh Văn Triển đã dựng trường trung học đầu tiên mang tên Trần Lãm ở Thái Bình. Nhà văn Duyên Anh đã từ Trần Lãm lớn lên và cũng viết về thời thơ ấu trong những tác phẩm thiếu nhi của ông. Di cư vào Nam, Nhà Giáo Đinh Văn Lô vẫn cùng các em đeo đuổi nghề gõ đầu trẻ và từ đây, bao thế hệ học trò nên người. Đinh Văn Lô, từng được Cựu Thiếu Tá Lê Cước (VA) xưng tụng và tri ân vì “Nhờ ơn Thầy mà Trường Cần Giuộc chúng tôi có lớp đệ nhất. Từ đó học sinh Cần Giuộc không phải khăn gói lên Sài Gòn để học tú tài đôi.Cần Đước, với Hiệu Trưởng Đinh Văn Triển cũng có những đóng góp tương tự.

Hoàng Lan Chi xin giới thiệu bài viết “Thái Bình, quê tôi” của Sao Khuê. Sao Khuê còn có những kỷ niệm về Thái Bình vì ngày di cư vào Nam, bà đã mười tuổi. Hoàng Lan Chi thì không nhớ gì cả vì lúc ấy mới năm, sáu tuổi. Vì thế, Hoàng Lan Chi chỉ viết “Sài Gòn ngày ấy” và vẫn coi Sài Gòn là “quê tôi”. [1] Tuy vậy vẫn nhớ về Thái Bình và trước khi Văn Quang về quê, Lan Chi đã nhắn ông về huyện chụp hình cho Lan Chi nhưng khi Văn Quang hỏi Lan Chi huyện gì thì Lan Chi trả lời “Chắc em cũng là Quỳnh Côi quá. Phải hỏi người lớn chứ “bé” như em, hong biết huyện gì!”.

Bây giờ qua bài Sao Khuê thì Hoàng Lan Chi mới biết mình là huyện Tiền Hải. Hoàng Lan Chi ngộ nhận mình quê huyện Quỳnh Côi giống Văn Quang vì nhà Lan Chi trên dưới “một rừng Quỳnh” ! (Nhà có 4 cô con gái thì đều lót tên đệm là Quỳnh).

Đoạn cuối của bài viết này có đoạn sau đây rất thú vị với Hoàng Lan Chi:

“Theo tinh thần hiệp định Genève, dân chúng hai miền toàn quyền chọn lựa ra Bắc hay vào Nam và chính phủ Pháp, Mỹ giúp phương tiện chuyên chở. Uỷ Hội Quốc Tế định ngày để dân chúng ghi danh nhưng tại Thái Bình thì “nhà nước ” lừa gạt cả hai bên- dân và ủy hội- bằng cách cho sai thời gian cũng như địa điểm ủy hội làm việc, nếu chẳng may có người tình cờ biết được ngày giờ thì cũng không biết ủy hội ngồi đâu để đến ghi tên, chưa kể là họ còn phong tỏa những con đường dẫn đến chỗ có ủy hội quốc tế kiểm soát đình chiến khiến hầu như chẳng có ai tiếp xúc được với Úy Hội để xin di cư.”

Vâng, kỷ niệm của chuyến rời quê Thái Bình để lên Hải Phòng rồi di cư vào Nam, Hoàng Lan Chi còn nhớ.

Ôi, đã hai lần đi tìm tự do và đều trả giá đắng cay. Bây giờ tóc đã hai mầu và quê hương thì nghìn trùng xa cách.

Ngày xưa, Đinh Bộ Lĩnh dẹp 12 sứ quân và cờ lau dựng nước. Ngày nay, con cháu họ Đinh đang phiêu bạt khắp nơi.

Mai sau biết đến bao giờ.

Hoàng Lan Chi

(Đinh Thị Quỳnh Giao)

²²²²²²²²²²²²²²²²²²²²²²²²

Ông anh họ chỉ hơn tôi ba tuổi mà làm tài lanh: ông ấy dậy tôi rằng khi điền bất cứ mẫu đơn gì thì cái phần nơi sinh phải cho thật đầy đủ: làng ( xã), tổng, phủ, huyện, tỉnh, miền, nước … có nghiã là tôi phải ghi như thế này:

Nơi sinh: làng Trình Phố, tổng An Bồi, phủ Kiến Xương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, Bắc Việt, Việt Nam.

Vâng, quê tôi là làng Trình Phố, Huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, Bắc Việt.

Ba tôi giải thích rằng tên làng là Trình Phố là tiếng nói tắt của “cửa Khổng phố Trình” từ cụm từ “cửa Khổng sân Trình ” mà ra Hèn chi làng tôi có một trường tiểu học (tôi nghe kể lại ), không phải loại “trường làng tôi ba gian lá đơn sơ, che trên miếng sân vuông” mà trường làng tôi xây bằng gạch, to lớn, phải leo lên 6 bực thềm mới đến các lớp học. Ngôi trường đẹp và lớn sau bị Tây trưng dụng, đóng bót tại đây, dân làng gọi là bót La Sa (chắc là do chữ Phú Lãng Sa chỉ người Pháp). Trường tiểu học của làng tôi không biết có từ bao giờ nhưng đầu thập niên 40 bác tôi mở thêm trường trung học là trung học Bùi Viện.

Làng Trình Phố có ba thôn và có câu “sấm truyền” như sau: “Thôn nhất có đất làm quan, thôn nhì mở chợ, thôn ba cặp kè”.

Cặp kè có nghĩa là kè kè cái “cặp” (cái kẹp) gắp phân. Phân đối với dân quê miền Bắc rất quí. Tình cờ trâu, bò, ngựa đang đi giữa đường mà bài tiết thì lập tức có người xí phần ngay. Dụng cụ xúc phân rất thô sơ nhưng rất hiệu quả là một cái xương hông của con trâu gọt thành cái lưỡi xẻng (giống như cái xẻng hốt rác ngày nay). Vừa thấy bãi phân là người ta đã vội dùng cái “xẻng” bằng xương xúc lấy, gói lại bằng lá chuối quơ đại quanh đó để đem về hay bỏ thẳng vào thùng phân đang gánh trên vai. Không được trù phú như thôn nhất, dân thôn ba có nhiều người đi đâu cũng mang kè kè cái cặp gắp phân nên từ đó có tiếng “thôn ba cặp kè”. Dĩ nhiên dân thôn ba đâu có chịu mang cái tiếng không thơm tho ấy, họ muốn giành làm thôn nhì. Việc đưa lên quan, quan xử thôn ba từ nay gọi là thôn trung. Trung là ở giữa, nhì là thứ hai cũng ở giữa (ở giữa thứ nhất và thứ ba), vậy thì huề cả làng: “Vợ cả, vợ hai, hai vợ đều là vợ cả”!

Thôn nhì là nơi có chợ Huyện cho dân cả huyện họp lại buôn bán nên rất đông đúc náo nhiệt, dân làng cũng truyền khẩu câu:”Bao gìờ chợ huyện hết người, họ Đinh hết của họ Bùi hết quan”.

Nói đến họ Bùi, chắc nhiều quí vị còn nhớ đến tên Bùi Viện, một con đường ở Sàigòn ngày xưa. Bùi Viện người làng Trình Phố. Cụ sinh năm 1839 mất năm 1878. Cụ có công lập cảng Ninh Hải (sau này là cảng Hải Phòng ) thành hải cảng quốc tế cho tàu bè ngoại quốc qua lại vào thế kỷ 19 nên được vua Tự Đức trọng dụng. [2] Hậu duệ của cụ ở Thái Bình là nhà giáo Bùi Văn Bảo và các con như Bùi Bảo Trúc, người viết phiếm luận nổi tiếng và Bùi Bảo Sơn. Nghe nói còn một chi ở Huế, những vị này đang ở bên Hoa Kỳ.

Họ Đinh nhà tôi nhiều của ư? Theo như chuyện kể lại thì đời cụ cố, là cụ hàn Quynh nhờ có ơn với một người buôn bè (buôn gỗ) từ Thanh Hoá ra, cụ được người này giúp cho việc buôn bán gỗ. Gặp vận may, dân làng được mùa liên tiếp có tiền xây nhà xây cửa, cụ trở thành đại lý bá gỗ trở nên giàu có. Tiền lại đẻ ra tiền, cụ xây cho mỗi người con một dinh cơ to lớn và tậu nhiều ruộng trải dài khắp huyện, đi thu lúa cũng ngồi thuyền như ở trong Nam. Có tiền rồi phải làm “quan” nên trong họ tôi có nhiều Chánh Tổng.

Ông nội tôi cũng làm Chánh Tổng nhưng là chánh tổng …duy tân. Để nâng cao dân trí ông tôi mở lớp dạy học nhưng ông tôi không được chuyên cần lắm, thày giáo lại chính là bà tôi. Sau này tất cả các con và rất nhiều cháu của ông bà tôi đều có thời kỳ đi “gõ đầu trẻ”. Khởi đầu là bác Cả Đinh Văn Lô. Sau khi tốt nghiệp tú tài tại Hà Nội, bác tôi, lúc ấy đã có vợ nên về quê mở trường dạy học. Quán ba gian mà ông tôi dựng gần đường lộ để giúp người qua lại có thể nghỉ ngơi chốc lát, đôi khi ngủ qua đêm hoặc ít ra là uống nước miễn phí (hai chum nước lúc nào cũng được đổ đầy với cái gáo dừa là hình ảnh quen thuộc trên các nẻo đường quê Việt Nam ngày xưa) được bác tôi biến thành trường trung học đầu tiên của làng, mang tên Trường Bùi Viện.

Trình Phố, không biết làng mang tên này từ thời nào thật đúng là nơi “cửa Khổng phố Trình” vì ngay đến làng quê mà cũng đã có được trường trung học.

Quê nhà tôi, chiều khi nắng êm đềm

Chạy dài trên khóm cây, đàn chim ríu rít ca

Bao người ra, ngồi hay đứng bên thềm

Chuyện trò vui với nhau, đời sống thần tiên.

Phải, đời sống lúc đó mới thần tiên làm sao. Trên sân vận động của làng tôi, khi chiều còn rực nắng vàng là lúc hai đội banh đang giành nhau một trái bóng tròn. Xa xa, trên không trung vài cánh diều đang lượn theo chiều gió, văng vẳng vọng về tiếng sáo vi vu. Ngày mùa người ta còn nghe tiếng đập lúa, tiếng hò gánh lúa, tiếng chày giã gạo.

Thời gian ấy tôi còn nhỏ lắm nhưng cũng nhớ là được các cô dẫn đi xem kịch Kim Chung Bích Hợp, được ăn quà, được tung tăng trên đường quê đi xem gặt lúa hay theo bà đi thăm ruộng trồng cây thuốc lào. Tôi sống vui sướng với ông bà, cha mẹ, anh chị em họ, các cô. Chú Út Đinh Tiến Lãng học ở Hà Nội thì lâu lâu mới về. Còn chú Năm Đinh Thế Vinh và chú Sáu, Đinh Văn Hoàng thì tôi không biết mặt. Mùa thu ngày kháng chiến khi tôi chỉ vừa biết “đi bằng 4 chân ” thì hai chú và xém chút nữa cả ba tôi đi theo “tiếng kêu sơn hà nguy biến”. May quá bà tôi dấu kịp hết quần áo khiến ba tôi đến muộn và đoàn người đã lên đường!

Đồng Xâm mà xưa có khi còn gọi là Đồng Thâm hay Đường Xâm nằm bên hữu ngạn Đồng Giang chuyên nghề chạm bạc. Năm 1689 có người tên là Nguyễn Kim Lâu người vùng Châu Long đã đến Đồng Xâm lập nên phường thợ bạc, từ đó đến nay trải qua 400 năm nghề chạm bạc (silver) của dân Đồng Xâm trở thành tinh luyện với những kỹ thuật bí truyền tạo ra những sản phẩm mỹ thuật không nơi nào ở Việt Nam sánh kịp. [3]

Rồi chiến tranh lan tràn. Làng Trình Phố có một chòi canh, xưa dùng để báo động khi có cướp về làng thì nay mỗi độ Tây về càn quét, lập tức người canh chòi nổi trống hay tù và để báo cho dân làng. Các cô tôi có lần gấp quá phải chui vào mấy cái chum lớn mà bà tôi dùng để ngâm lúa giống. May mắn là sau bao nhiêu năm loạn lạc chúng tôi vẫn được bình an, trừ ngôi nhà nhỏ của ba má tôi ở Đồng Xâm bị Tây đốt rụi.

Tây thì đốt nhà, Việt Minh thì nửa đêm bắt người xử tử nên đàn ông, phụ nữ phải bỏ làng trốn ra tỉnh. Ông bà tôi tiếc của còn nấn ná ở lại sau thì cũng đành tay trắng ra đi. Chợ Huyện từ chiến tranh không còn họp nữa, và như câu “sấm” “Chợ huyện hết người, họ Đinh hết của” quả là ứng nghiệm: tài sản của ông bà tôi chỉ là nhà cửa, ruộng nương ở thôn quê, nay thì mất sạch.

Tôi từ nhỏ vẫn sống với ông bà nên khi theo ông bà chạy ra tỉnh thì tôi đã thấy đâu đã vào đấy: Cô Ba Đinh thị Ngát đã mua cho gia đình một căn phố làm nơi ông bà và gia đình bác Cả sinh sống ở đường Lý Thường Kiệt. Đối diện, đi sâu vào con hẻm là khu đất rộng có ba căn nhà gianh vách đất nhưng rất gọn gàng sạch sẽ, cất song song với nhau là nhà tôi, nhà cô Tư Đinh thị Lừng và căn chót áp lưng với nhà tôi là nhà em rể của bác Cả tôi. Tại khu đất này, bác tôi lại dựng trường dạy học. Nhà tôi họ Đinh nên lần này bác tôi đặt tên trường là “Trung Học Trần Lãm“. [4]

Trưòng Trung Học Trần Lãm chỉ có 4 lớp: đệ thất, đệ lục,đệ ngũ, đệ tứ cũng nhà gianh vách đất nhưng đông học trò, bàn ghế khang trang. Nhà văn Duyên Anh và nhiều người thành danh khác cũng xuất thân từ trường Trần Lãm của thày hiệu trưởng Đinh Văn Lô. Giáo sư kiêm sử gia Nguyễn Khắc Ngữ, nhà văn Dương Hùng Cường, nhà khảo cứu Nguyễn Bá Triệu. tuy người Thái Bình nhưng không biết có học Trần Lãm hay không. Bác tôi vừa làm hiệu trưởng vừa dạy toán lý hóa cho các cấp. Ba tôi Đinh Văn Triển dạy Việt văn và Anh văn, những môn khác do bạn bè của bác hay các thày từ trường công ra dạy thêm. Ngoài việc dạy theo chương trình giáo dục, bác tôi còn tổ chức những lần cắm trại, những buổi thể thao thể dục hay các trò chơi hướng đạo vô cùng hào hứng, thích thú mà tôi chỉ được chứng kiến chứ chưa được tham gia vì còn quá nhỏ.

Thái Bình năm 1953 chưa được gọi là tỉnh mà chỉ được coi như một thị xã: Thị Xã Thái Bình. Bình còn có nghĩa là cái bình tức cái lọ (chai lọ) nên ngươì vùng khác khi đùa đùa thì nói: mày là dân Thái Lọ. [5]

Tuy có nhiều bờ biển nhưng Thái Bình chỉ có một bãi biển là bãi biển Đồng Châu, cách tỉnh lỷ 30 km, dài 5 km, còn hoang sơ nhưng nếu chịu khó bơi chừng 7 km ra biển thì có Cồn Thủ và Cồn Vành có những rặng phi lao rất nên thơ. Bãi biển Đồng Châu nay là nơi khai thác một loại ốc rất ngon gọi là ốc ngón tay (thánh chỉ).

Từ năm 1986, mỏ khí đốt Tiền Hải được khai thác, hàng năm hàng chục triệu mét khối khí và trong tương lai có thể khai thác được dầu hỏa.

Cách tỉnh lỵ 10 km, theo hướng bến phà Tân Đệ sang Nam Định có làng Bách Thuận rất trù phú chuyên trồng cây ăn quả. Làng có hai chùa Từ Vân và Bách Tính rất đẹp. Thái Bình có đến 35 ngôi đình đền và 13 ngôi chùa nhưng nổi tiếng là Chùa Keo, đền Đồng Bảng, đền Tiên La.

Đền Đồng Bảng ở Đào thôn, xã An Lễ huyện Quỳnh Phụ. Đào Thôn hay trang Đào Động do Trần Nhân Huệ, một danh tướng nhà Trần khẩn hoang và lập ra. Theo sử cũ thì Quỳnh Phụ Bắc là căn cứ thủy quân đời Trần do có sông lớn, đầm lầy bao quanh. Chính từ nơi này quân ta đã tiến ra cửa Đại Bàng (nam Đồ Sơn) tiêu diệt địch, lập nên chiến công Bạch Đằng. Từ đó về sau có câu:

Dù ai buôn bán gần xa

Hai mươi tháng tám giỗ cha thì về

Dù ai buôn bán trăm nghề

Hai mươi tháng tám nhớ về Đào Thôn

Hội Đền Đồng Bảng kéo dài từ 20 đến 26 tháng 8 hàng năm. Đền thờ Đức Trần Hưng Đạo ( Trần Hưng Đạo mất ngày 20 tháng 8) và một Thủy thần là Bát Hải Động Đình. Ngoài múa rồng, múa lân, đánh vật, đánh cờ tướng thì chủ yếu của ngày hội là đua thuyền còn gọi là đua trải. Trải là loại thuyền bằng gỗ dổi, vừa chắc vừa nhẹ vừa dẻo, dài từ 8 đến 10 mét. Đào Động và làng kết nghĩa là làng Nuồi, mỗi làng có 3 trải bơi thi với nhau. Dường như bài thơ khá nổi tiếng “Lá Diêu Bông” của Nhà Thơ Hoàng Cầm có câu thơ “Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng”.

Chùa Keo vốn ở ấp Keo (Giao Thủy). Ấp Keo có nghề nấu keo da trâu, nghề sơn gỗ, sơn son thếp vàng. Chùa Keo khởi đầu được xây từ đời nhà Lý ở hữu ngạn hạ lưu sông Hồng. Chùa có kiến trúc đồ sộ gồm 17 công trình xây dựng với 128 gian chiếm 58.000 mét vuông trên nền đất 108.000 mét vuông. Chùa có nhiều tượng Phật vừa thờ Phật vừa thờ Thánh. Hàng năm làng Keo mở hội chùa hai lần: hội mùa xuân vào mồng 4 Tết với các cuộc thi nấu cơm, thi bắt vịt, thi ném pháo nhưng hội lớn là hội thu mở từ ngày 13 đến 15 tháng 9:

Cho dù cha đánh mẹ treo

Em không bỏ hội chùa Keo hôm rằm

Chùa Keo

Hội mùa thu ngoài các cuộc thi bơi trải ( bơi thuyền), thi thầy đọc tức là thi giọng đọc và bài văn của các thày cúng tế, thi thổi kèn, thi đánh trống còn có đám rước tượng thiền sư Không Lộ với các tích (việc làm) của thiền sư khi còn sống.

Đền Tiên La thuộc làng Tiên La trong huyện Hưng Hà (tức Duyên Hà ), thờ Bát Nạn Vũ Thị Thục, một nữ tướng của Hai Bà Trưng. Huyện Duyên Hà còn là quê hương của nhiều nhân vật nổi tiếng như Kỳ Đồng và Lê Quý Đôn.[6]

Đền Tiên La

Kỳ Đồng tên là Nguyễn văn Cẩm, người làng Ngọc Liễn tổng Hà Lý huyện Duyên Hà, là ngưòi rất thông minh từ khi còn nhỏ, hiểu biết những điều mà ngay người lớn cũng không biết nên được gọi là Kỳ Đồng (đứa trẻ kỳ dị). Năm 12 tuổi ông phát động cuộc nổi dậy chống Pháp nhưng không thành công. Ông bị bắt và gửi sang Algérie. Nhờ thông minh và còn nhỏ tuổi nên ông được đi học, đậu được hai bằng tú tài văn chương và khoa học Pháp. Tháng 9 năm 1896 ông được về nước, làm công chức một thơì gian rồi lên Bắc Giang, mượn tiếng khai thác đồn điền nhưng thật ra là tổ chức cơ sở khởi nghĩa. Đề Thám có gửi người đến liên lạc nên ông bị bắt năm 1897, bị xử tù chung thân và đầy đi đảo Tahiti và Marquises (Polynésie) năm1898; nơi đây Kỳ Đồng sáng tác vở kịch thơ trào lộng bằng tiếng Pháp “Les Amours d’un Vieux peintre Aux Iles Marquises ” để đùa người bạn ông là họa sĩ Paul Gauguin khi ông này đến Marquises . Vở kịch thơ dựa vào những điều mắt thấy tai nghe khi đón Gauguin ở bến tàu. Vở kịch với 799 câu thơ có những khúc ca trữ tình của phụ nữ đảo Tahitivà nhiều điển tích trong văn chương Pháp. Năm 1962, vở kịch được mục sư O’reilly giới thiệu trên báo, sau được thạc sĩ jean Charles Blanc bình giảng và được nhà xuất bản A Tempera ở Paris xuất bản năm 1989 nhưng chưa được trình diễn.

Lê Quý Đôn sinh ngày 2 tháng 8 năm 1726 tại Diên Hà huyện Duyên Hà. 18 tuổi ông đậu giải nguyên, 27 tuổi đậu Hội nguyên rồi đậu Đình nguyên nên goị là tam khoa bảng nhãn ( ba lần đậu đầu). Với học vấn uyên bác, Lê Quý Đôn để lại 40 bộ tác phẩm gồm hàng trăm quyển nhưng bị thất lạc nhiều. [7]

Dân Thái Bình có truyền thống cách mạng từ thời Đinh Bộ Lĩnh nên mới đây vào tháng 5, 6, 7 năm 1997 nhân dân Thái Bình, Hưng Yên, Thanh Hoá, Nghệ An đã biểu tình ôn hòa yêu cầu chính quyền trừng trị tham nhũng và giảm bớt sưu thuế nhưng đã bị nhà nước trừng trị thẳng tay bằng súng ống bạo lực.

Còn chúng tôi ư, chúng tôi không dám làm cách mạng, chúng tôi bỏ quê, bỏ của chạy ra tỉnh mà cũng không được yên. Chưa đầy hai năm sau, đúng vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, Việt Minh đánh vào tỉnh lỵ. Nửa đêm về sáng thì nghe tiếng súng và tờ mờ sáng thì mọi người khăn áo tay nải chạy ra bến xe để chạy sang Nam Định. Bến xe rất náo loạn, có ba xe đầy người muốn đi Nam Định mà chỉ có một tài xế. Một người lính dơ lựu đạn đe dọa bắt tài xế phải lái chiếc xe ông ta đang ngồi. Toàn bộ nhà chúng tôi kẹt lại, may thay bác và ba tôi nhanh trí, nhanh chân, chạy theo bám được chiếc xe đi Nam Định, nhờ vậy đi thoát. Bác tôi và ba tôi ra tận Hải Phòng sau đó tiếp tục đi dạy học ở các trường tư như Khai Trí, Tiến Đức.

Xe chúng tôi cũng có tài xế nhưng người này lái xe chạy ngược về quê. Trên đường đi, xe chạy qua một trại lính vừa tàn cuộc chiến, xác người và nhất là xác trẻ con nằm rải rác trong sân trại, thật là kinh hoàng. Xe ngừng, chúng tôi phải đi bộ tìm về quê ngoại là làng Phụng Thượng. Có lúc phải băng qua sông thì mẹ tôi phải thuê người cõng mấy chị em tôi lội qua sông.

Ngày 20 Tháng 7 là ngày ở Genève người ta ký hiệp định đình chiến cho Việt Nam nên chỉ ít lâu sau thì chiến trận ngưng, chúng tôi trở về thành phố. Nhà cửa may mắn không hề hấn gì. Các cô tôi, tôi không nhớ vì sao đã chạy thoát trước ngày 20 cả rồi. Kẹt lại ở tỉnh có ông bà nội tôi, bác gái và 8 người con, bốn mẹ con tôi và hai chị người làm.

Thái Bình nằm bên dòng sông Trà Lý, đường sang Nam Định có bến đò Tân Đệ còn đường từ quê tôi vào tỉnh có cây cầu đúc bắc qua sông mang tên cầu Bo. Để ngăn quân Việt Minh vào thành, đêm 19 Tháng 7 năm 1954, Pháp đã thả bom đánh sập cầu trước khi rút. Khi vào tỉnh Việt Minh lập ngay một cái cầu treo, đan bằng dây kẽm gai nối từ đầu nọ qua đầu kia, trên kê ván gỗ làm phương tiện qua lại cho người đi bộ, mà rất nhiều nguời cũng phải bò mới qua được vì cầu đung đua như võng khó mà giữ nổi thăng bằng khi bước trên đó.

Trường học vẫn đóng cửa nhưng lũ trẻ chúng tôi tối nào cũng phải đi “sinh hoạt”. Chúng tôi được tập hát bài ca không có lời chỉ toàn là nốt nhạc chẳng hạn như ” rề rề sỉ rề sol rê sí sí sí sòn” nghe rất lạ tai. Chúng tôi được tập “nhảy sol đố mì” chung với tất cả trẻ con trong cùng khu phố, phải nắm tay con trai bác lao công quét trường ngày trước vửa nhảy vừa hát dù rất xấu hổ (nam nữ thụ thụ bất thân). Người ta kháo nhau là có anh con trai mê nhảy quá, lúc phài leo lên mái nhà làm việc anh cũng còn nhảy nhót nên bị bé xuống mà chết khiến bà mẹ khóc con là: “Người ta thì chết vì nước vì non, con tôi thì chết vì sol đố mì”. Công an khu phố đi thăm từng nhà, thường vào bữa cơm để xem nhà đó ăn gì, cơm trắng hay cơm hẩm, rau cỏ hay cá thịt và thường họ hay rà rà theo trẻ con để dò hỏi về sinh hoạt trong gia đình. Để trả lời những câu hỏi thường chúng tôi được dạy là “Em không biết ba em ở đâu” và có thịt ăn khi thấy công an vào thì dấu xuống đáy chén cơm.

Trường Trần Lãm không có trò và thày, ít lâu sau cả 4 gian nhà đầy những bộ đội. Nhưng người này nói tiếng nghe rất lạ tai. Họ từ Thanh Nghệ Tĩnh hay xa hơn là Quảng Nam Quảng Ngãi chuyển ra. Họ thường lân la đến chuyện trò với trẻ con chúng tôi cho đỡ nhớ nhà, họ thường lấy cớ mượn cái “chủi” quét nhà để nói chuyện với tôi. Tôi nghe họ nói thì biết là họ đang đánh nhau ở mặt trận nào đó rồi được lệnh đi thẳng đến Thái Bình. Họ ao ước được trở về quê thăm cha mẹ vợ con, ai cũng nghĩ là hoà bình rồi thì sẽ được giải ngũ về quê. Họ không ngờ là họ bị đưa thẳng ra Bắc tập kết nên cũng có nhiều bộ đội than phiền với nhau là bị lừa!

Học trò Trường Trần Lãm bị kẹt lại thì bị gom thành từng đoàn theo xe ba gác (ba bánh) đi từng nhà tịch thu sách đem về đốt (giống Tần thủy Hoàng). Tôi đang đọc truyện nhi đồng cũng bị giựt đi mất nên ấm ức hoài.

Tuy hiệp định Genève đã ký nhưng sự đi lại còn khó khăn, đi đâu cũng phải có giấy phép của ủy ban. Bác Cả gái và mẹ tôi xin được giấy phép đi buôn vải. Hai bà phải ra tận Hà Nội mua vải, mua thuốc Tây về bán lại kiếm ăn. Bà nội tôi có sạp bán nón ở chợ. Uỷ ban cho phép bác và mẹ tôi đi buôn nhưng luôn luôn canh chừng gắt gao lũ con nít mục đích ngăn cản chúng tôi di cư vào Nam.

Theo tinh thần hiệp định Genève, dân chúng hai miền toàn quyền chọn lựa ra Bắc hay vào Nam và chính phủ Pháp, Mỹ giúp phương tiện chuyên chở. Uỷ Hội Quốc Tế định ngày để dân chúng ghi danh nhưng tại Thái Bình thì “nhà nước ” lừa gạt cả hai bên- dân và ủy hội- bằng cách cho sai thời gian cũng như địa điểm ủy hội làm việc, nếu chẳng may có người tình cờ biết được ngày giờ thì cũng không biết ủy hội ngồi đâu để đến ghi tên, chưa kể là họ còn phong tỏa những con đường dẫn đến chỗ có ủy hội quốc tế kiểm soát đình chiến khiến hầu như chẳng có ai tiếp xúc được với Úy Hội để xin di cư. Tất cả mọi người muốn di cư phải tìm cách trốn đi. Mẹ tôi chỉ có ba con nhỏ mà phải trăm mưu ngàn kế mới thoát ra được đến Hải Phòng. Khi đã gây được lòng tin với công an, mẹ tôi nói dối là cho tôi về quê ngoại rồi lén gửi tôi theo một bà cô, vừa đi xe vừa đi bộ, vừa công khai vừa lén lút chạy ra Hải Phòng. Phần mẹ tôi đã có giấy phép công khai dẫn em trai tôi chưa đầy hai tuổi ra thăm bố tôi. Ở nhà còn em gái kế tôi, chị người làm và bà nội tôi vẫn giữ sinh hoạt như thường lệ để tránh công an nghi ngờ. Lúc đó Hà Nội vừa bị tiếp thu đang làm lễ ăn mừng độc lập, cô tôi từ Hải Phòng vội đi Hà Nội rồi xin giấy phép trở về Thái để dẫn bà tôi và em tôi ra Hà Nội xem lễ độc lập. Thật là hú hồn hú vía may mà công an lại cho phép nên cả nhà bằng cách này hay cách khác đã ra đến Hải Phòng rồi sau đó di cư vào Nam theo đường biển vào giây phút cuối cùng, đến bãi Vũng Tàu vào đúng ngày mồng một Tết tức tháng 2 năm 1955.

Từ bến Sáu Kho, chúng tôi xuống tàu “há mồm” rồi được lên tàu lớn của Mỹ, chứa tới 5000 người. Khi lên tàu, mẹ tôi chậm chạp sao đó mà kẹt lại phải đi chuyến thứ ba, chuyến chót này ít ngươì, nhẹ nên lại ra tới tàu lớn trước. Ba tôi vừa phải ôm hành lý vừa phải trông cô em gái kế tôi còn tôi chưa đầy 10 tuổi , gầy còm ốm yếu phải vừa bế em trai chưa đầy 2 tuổi vừa đeo bị quần áo để leo thang giây từ tàu há mồm sang tàu lớn may sao mà hai chị em không rơi xuống biển.

Từ ngày đó tôi xa Thái Bình.

Quê tôi, Thái Bình có dòng sông Trà Lý

Có chùa Keo, Đình Bảng,Tiên La

Có Lê Quí Đôn, bác học tài hoa

Có Bùi Viện xông pha sang tận Mỹ

Dân quê tôi hiền hoà mà cao chí khí

Giống Lạc Hồng dựng, giữ nước ngàn xưa

Ôi! quê hương, thương biết mấy cho vừa

Nay xa cách mà mãi còn thương nhớ…..

Sao Khuê

12-4-2007

Bài “Về Quê Thái Bình” của nhà văn Văn Quang ở đây:

Văn Quang- Về Quê Thái Bình Lần Cuối

Gallery | This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s