LS Nguyễn Hữu Thống- Tù “cải tạo”

TÙ “CẢI TẠO”

Luật Sư Nguyễn Hữu Thống

Hai tháng sau khi cưỡng chiếm Miền Nam, tháng 6-1975, Đảng Cộng Sản áp dụng chính sách tập trung các quân nhân, công chức, cán bộ phục vụ chế độ Việt Nam Cộng Hòa trong các trại lao động khổ sai mệnh danh là trại cải tạo. Theo các tài liệu nghiên cứu và sưu tầm tại các cơ quan có thẩm quyền từ Hoa Kỳ đến Âu Châu thì có đến một triệu “tù cải tạo” đã bị giam giữ mà không bị truy tố và kết tội bởi tòa án. Ước chừng 165 ngàn “tù cải tạo” đã bỏ mình tại nơi rừng thiêng nước độc từ Nam chí Bắc. (Wikipedia, the free encyclopedia)

Ngoài ra còn có rất nhiều trí thức văn nghệ sĩ cũng đã bị giam giữ và hành hạ tại các trại tập trung như Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Sĩ Tế, Nguyễn Viết Khánh, Thanh Tâm Tuyền, Cung Trầm Tưởng, Thanh Thương Hoàng, Trần Dạ Từ, Duyên Anh v..v… dưới danh nghĩa “biệt kích văn nghệ” và “sĩ quan biệt phái”.

Bên cạnh chính sách “học tập cải tạo” còn có những vụ đàn áp trí thức văn nghệ sĩ và các tu sĩ trong mật trận “tòa án luật pháp”.

Thay vì để ban phát công lý cho người dân và bảo vệ con người về sinh mạng, tự do, danh dự và tài sản, tòa án và luật pháp đã được sử dụng như những công cụ đàn áp khủng bố để bắt giam độc đoán những người đấu tranh ôn hòa cho tự do, dân chủ, công lý và nhân quyền.

Từ 1975 đến 1977, có ít nhất 14 luật sư đã bị kết án và giam giữ tại trại cải tạo vì đã đứng lên tố cáo nhà cầm quyền vi phạm tự do nhân quyền. Tháng 12-1975 Luật Sư Nguyễn Khắc Chính bị kết án tù chung thân trong vụ án Vinh Sơn. Trước đó, ngay sau khi Saigon thất thủ, Luật Sư Trần Chánh Thành đã quyên sinh vì không muốn sống trong ngục tù CS, dầu chỉ trong một ngày. Năm 1976, sau khi bị di chuyển từ trại cải tạo Long Thành trong Nam, Luật Sư Trần Văn Tuyên đã tử tiết tại trại cải tạo Hà Tây ngoài Bắc.

Cùng với Luật Sư Trần Văn Tuyên, vị thủ lãnh sau cùng của Luật Sư Đoàn Saigon, hai vị thủ lãnh sau cùng của Luật Sư Đoàn Huế là các Luật Sư Vũ Đăng Dung và Lý Văn Hiệp cũng lâm quốc nạn. Thũ Lãnh Lý Văn Hiệp bị kết án và giam giữ 12 năm tù về tội tuyên truyền chống chế độ. Thủ Lãnh Vũ Đăng Dung cũng bị giam giữ 6 năm tại trại cải tạo Xuân Lộc vì đã cùng Luật Sư Trần Danh San hoạt động trong Ủy Ban Nhân Quyền Việt Nam.

Đồng thời với việc ban hành Hiến Chương 77 tại Tiệp Khắc, ngày 23-4-1977, tại khuôn viên Nhà Thờ Đức Bà Saigon, Luật Sư Trần Danh San tuyên đọc bản “Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Những Người Việt Nam Khốn Cùng”. Anh bị giam giữ 10 năm tại trại cải tạo cùng với các Luật Sư Nguyễn Hữu Giao và Trần Nhật Tân. Thủ Lãnh Vũ Đăng Dung cùng các Luật Sư Triệu Bá Thiệp và Vũ Hùng Cương bị giam 6 năm; Các Luật Sư Nguyễn Quý Anh và Nguyễn Hữu Doãn bị giam 18 tháng. Từ 1975 Luật Sư Ca Sĩ Khuất Duy Trác đã bị giam 12 năm, 6 năm về tội “sĩ quan biệt phái”, và 6 năm về tội tuyên truyền chống chế độ.

Trong số 14 luật sư bị đọa đày tù hãm, đến 1995, 6 vị đã ra người thiên cổ: Trần Văn Tuyên, Vũ Đăng Dung, Lý Văn Hiệp, Nguyễn Quý Anh, Nguyễn Hữu Giao và Nguyễn Hữu Doãn.

THÁNG 4-1980: ĐÒI PHÓNG THÍCH TÙ CẢI TẠO

Trong Mùa Quốc Hận tháng 4-1980, tại tiền đình Tòa Thị Chính San Francisco, nhân danh Hội Luật Gia Việt Nam tại California, Luật Sư Nguyễn Hữu Thống đọc bản Thông Điệp Ngày Quốc Hận gởi Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ Tịch Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Trong chuyến công du và thăm viếng đồng bào tại Thái Lan, để trả lời câu chất vấn của báo Bangkok Tribune về việc Đảng Cộng Sản Việt Nam bắt giam trái phép tại các trại cải tạo hàng trăm ngàn trí thức văn nghệ sĩ, quân nhân, công chức và cán bộ Việt Nam Cộng Hòa, Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ ngụy biện rằng: “Những phần tử ngụy quân ngụy quyền này đáng lẽ đã bị thanh toán đồng loạt. Tuy nhiên do chính sách khoan hồng của Đảng và Chính Phủ, chúng tôi chỉ tập trung họ trong các trại cải tạo để giáo dục họ về đường lối chính sách quốc gia thay vì phải thẳng tay trừng trị”.

Để phản bác luận điệu ngoan cố này, Luật Sư Nguyễn Hữu Thống tuyên đọc bản Thông Điệp Ngày Quốc Hận 1980 để cảnh giác Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ, về một số nguyên tắc pháp lý căn bản được coi là nền tảng tổ chức và sinh hoạt tại các quốc gia văn minh trên thế giới. Đó là quyền của người dân được suy đoán là vô tội, quyền không bị tra tấn hành hạ, quyền được tỵ nạn chính trị và quyền tự do xuất ngoại.

Theo Điều 11 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, mọi người đều được quyền suy đoán vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên xử công khai tại tòa án với đầy đủ bảo đảm cho quyền biện hộ. Không ai có thể bị giam giữ và lưu đầy về một tội hình sự do những điều đã làm, nếu những điều này không cấu thành tội hình sự chiếu luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế như Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị. Đã từng hành nghề, Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ chưa thể quên nguyên tắc suy đoán vô tội của người dân. Quyền này phải được áp dụng cho hàng trăm ngàn quân-cán-chánh và trí thức văn nghệ sĩ Việt Nam Cộng Hòa. Những người này không phạm tội hình sự nào. Họ chỉ tự vệ chính đáng khi thi hành nghĩa vụ công dân để bảo vệ đất nước và chế độ Cộng Hòa Dân Chủ chống chiến tranh xâm lược do phe Quốc Tế Cộng Sản phát động qua Đảng Cộng Sản Việt Nam. Ngày nay, vì địa vị và không tưởng nên lãng quên nguyên tắc này, Luật Sư Thọ là kẻ lầm đường lạc lối đã phản bội lời tuyên thệ khi gia nhập Luật Sư Đoàn Saigon, cam kết thượng tôn Luât Pháp, bảo vệ Công Lý và Nhân Quyền. Chiếu Điều 5 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, mọi người đều có quyền tự do thân thể và an ninh thân thể nên không thể bị tra tấn hành hạ. Giữa thập niên 1860, khi cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ kết thúc, những người thắng trận Miền Bắc đã không bắt giam, hành hạ, nhục mạ hay tước đoạt tự do, tài sản của đồng bào thất trận Miền Nam.

Chiếu các Điều 14 và 13 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền: “Khi bị đe dọa đàn áp, về chính trị, người dân có quyền tìm nơi tỵ nạn, và được hưởng quyền tỵ nạn tại các quốc gia khác”. “Ai cũng có quyền tự do đi lại và tự do cư trú và quyền xuất ngoại và hồi hương”. Ngày nay Chính Phủ Hà Nội đã tước đoạt quyền tự do xuất ngoại của hàng trăm ngàn thuyền nhân vượt biển đã phủ nhận cái sống để cầm cái chết ra đi. Hơn nữa hàng chục ngàn “tù cải tạo” có thân nhân tại hải ngoại, đã hoàn tất thủ tục đoàn tụ gia đình, nhưng hồ sơ của họ vẫn bị Nhà Nước ếm nhẹm hay bác bỏ vô cớ.

Vì vậy Hội Luật Gia Việt Nam tại California bằng Thông Điệp này, long trọng cảnh giác Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ Tịch Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam về các nguyên tắc pháp lý và đạo lý nêu trên. Đồng thời khuyến cáo Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ hãy dùng thẩm quyền, nếu có, của mình để:

1. Tôn trọng Quyền Sống, Quyền Tự Do Thân Thể và An Ninh Thân Thể của người dân bằng cách Phóng Thích Tất Cả Các Tù Nhân Chính Trị .

2. Tôn trọng Quyền Tỵ Nạn Chính Trị và Quyền Tự Do Xuất Ngoại để các tù nhân chính trịđược đoàn tụ với các thân nhân tại quốc ngoại qua Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự.

Cựu Kim Sơn ngày Chủ Nhật 27 tháng 4, 1980

Hội Luật Gia Việt Nam tại California

Bản Thông Điệp Ngày Quốc Hận 1980 đã được thông tri cho các chính giới Hoa Kỳ và các đài truyền thanh quốc tế như BBC. Bốn năm sau Bản Thông Điệp Ngày Quốc Hận 1980 của Hội Luật Gia, năm 1984 Tổng Thống Reagan cũng tố cáo Chính Phủ Hà Nội đã bắt giam độc đoán các tù nhân chính trị Việt Nam, đồng thời yêu cầu Hà Nội phóng thích tất cả các “tù cải tạo” còn bị giam giữ để họ được xuất cảnh và tái định cư tại Hoa Kỳ.

Ngày 30-7-1989, tại Hà Nội, Hoa Kỳ và Việt Nam ký Hiệp Ước để cho phép các cựu tù nhân chính trị lập thủ tục nhập cảnh Hoa Kỳ trong Chiến Dịch Nhân Đạo HO (Humanitarian Operation).

VỪA ĐÁNH VỪA ĐÀM.

Cộng Sản đánh trí thức văn nghệ sĩ và quân cán chánh Việt Nam Cộng Hòa và đã giam giữ độc đoán hàng trăm ngàn người tại các trại cải tạo. Cộng Sản đánh tư sản trong chính sách “cải tạo công thương nghiệp” để tịch thâu các cơ sở kinh doanh thương mại và các xí nghiệp công kỹ nghệ của người dân thành phố.

Cộng Sản đánh nông dân trong chính sách “hợp tác hóa nông nghiệp” để tước đoạt ruộng đất của tư nhân và đầy ải người dân trong các nông trường tập thể mệnh danh là “vùng kinh tế mới”.

Song song với chiến dịch đánh chiếm, Cộng Sản phát động chiến dịch hòa đàm để yêu sách và đòi hỏi. Chính Phủ Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao với Hà Nội và trả Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa 3.3 tỉ mỹ kim để tái thiết hậu chiến chiếu Hiệp Định Paris 1973. Đòi thiết lập bang giao để xin Hoa Kỳ thừa nhận chính phủ Cộng Sản. Yêu sách này đi trái truyền thống đạo lý và Chủ Thuyết Stimson theo đó Hoa Kỳ không thừa nhận các quốc gia thiết lập bằng xâm lăng võ trang.

Năm 1931 khi Nhật Bản dùng võ lực đưa Phổ Nghi lên làm vua tại cái gọi là “Mãn Châu Quốc”, Hoa Kỳ không thừa nhận Mãn Châu và Chính Quyền Phổ Nghi.

Về pháp lý, chiếu Điều 15 Hiệp Định Paris 1973 “sự thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình trên cơ sở thương nghị và thỏa hiệp giữa Miền Bắc và Miền Nam, không bên nào cưỡng ép bên nào, không bên nào thôn tính bên nào, thời gian thống nhất sẽ do hai Miền Nam Bắc Việt Nam đồng thỏa thuận”(theo nguyên tắc nhất trí). Theo giới am hiểu, Tổng Thống Nixon hứa sẽ viện trợ tái thiết Nam Việt 1 tỉ, Bắc Việt 1 tỉ và Miên, Lào mỗi nước 500 triệu mỹ kim, tổng cộng 3 tỉ mỹ kim. Dầu sao lời cam kết tái thiết 3 tỉ mỹ kim nếu có cũng không được qui định thành văn trong Hiệp Định Paris 1973. Do đó Hoa Kỳ không có nghĩa vụ pháp lý phải thi hành một lời hứa bên lề hội nghị. Trong mọi trường hợp, vì Bắc Việt đã vi phạm thô bạo Điều 15 Hiệp Định Paris bằng xâm chiếm võ trang, nên họ không có quyền đòi Hoa Kỳ phải tái thiết hậu chiến riêng cho Bắc Việt là kẻ đã xé bỏ Hiệp Định Paris hai năm sau khi Hiệp Định còn chưa ráo mựcchiếu nguyên tắc “Nghĩa Vụ Đồng Bất Thi Hành” (Exceptio Non Adimpleti Contractus).

TỪ ODP ĐẾN H.O.

Với sự tháo chạy của đồng minh tại Việt Nam, năm 1975, phong trào vượt biển bỏ nước ra đi đã diễn ra kinh hoàng và thê thảm trong một phần tư thế kỷ.

Theo cuốn Wikipedia số tháng 4-2011, từ cuối thập niên 1970 đến đầu thập niên 2000, tổng số các “thuyền nhân vượt biển” (boat people) là 2 triệu người trong đó hơn 500 ngàn người đã bỏ xác dưới đại dương.

Về mặt trách nhiệm Việt Cộng là chánh phạm. Hoa Kỳ cũng có mặc cảm phạm tội vì đã rũ áo ra đi sau khi lôi kéo Việt-Miên-Lào vào Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai. Nhân loại văn minh vô cùng xúc động về những thảm họa chết chóc của hàng chục triệu con người tại Đông Nam Á.

Vấn đề thuyền nhân vượt biển là một vấn đề quốc tế đòi hỏi một giải pháp quốc tế. Do đó, ngày 30-5-1979, Hà Nội đã ký với Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc Bản Cương Lĩnh Thỏa Ước về Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự (Memorandum of Understanding of an Orderly Departure Program).

Và, ngày 20-7-1979, với sự tham dự của 46 quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc (trong đó có Việt Nam), Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc thiết lập Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự (ODP: Orderly Departure Program). Theo phúc trình của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ hơn 160 ngàn người Việt Nam sẽ có cơ hội được xuất cảnh mà không phải lủi trốn ra đi để chịu biết bao khổ ải với bão tố, hải tặc và kình ngư.

Mặc dầu vậy đến năm 1989, nghĩa là sau một thập niên, chỉ có khoảng 75 ngàn người đi theo diện ODP. Và trong thời gian này vẫn có hàng trăm ngàn người Việt đã bỏ nước ra đi trên những con thuyền cũ kỹ chở quá tải. Có tàu chở tới 400 thuyền nhân vượt biển trong cuộc hành trình vượt 240 cây số về phía Đông để tới đường thủy đạo của các thương thuyền quốc tế. Như vậy Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự thiết lập năm 1979 đã không hoàn thành nhiệm vụ.

Mưởi năm sau, ngày 30-7-1989 Hà Nội ký Thỏa Ước với Hoa Kỳ để thúc đẩy và phát triển Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự (ODP) bằng Chiến Dịch Nhân Đạo (HO: Humanitarian Operation). Cho các cựu “tù cải tạo” và gia đình được xuất cảnh và tái định cư tại Hoa Kỳ theo lời yêu cầu của Tổng Thống Reagan năm 1984.

Những Con Số Thống Kê

Sau đây là tóm lược một vài con số thống kê về Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự (ODP), và Chiến Dịch Nhân Đạo (HO). Tài liệu tham chiếu là các bản phúc trình của Phó Ngoại Trưởng Lawrence Eagleburger và Phụ Tá Phó Ngoại Trưởng Robert Funseth hồi tháng 6 và tháng 11-1989 khi Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự (ODP), và Chiến Dịch Nhân Đạo (HO) đã được thông qua.

Ngoài ra còn có những phúc trình của Bộ Ngoại Giao, và của các chuyên viên và giám đốc ODP Hoa Kỳ (US ODP) tại Bangkok, Đà Lạt và Hà Nội. Trong phạm vi ngoài chính quyền còn có rất nhiều bản tin như của Wikipedia, của các cơ quan báo chí và trường đại học Nam Cali như Los Angeles Times và San DiegoUniversity:

– Tháng 6-1989 Robert Funseth cho biết năm 1979 khi Chương Trình ODP được ban hành, có 30 quốc gia nhận tiếp đón những người tỵ nạn Đông Dương. Và sẽ có hơn 160 ngàn người Việt Nam được xuất cảnh hợp pháp theo sự ước tính của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc.

– Tháng 6-1989 Lawrence Eagleburger cho biết từ 1975 đến tháng 6-1989 có trên 1 triệu 500 ngàn người tỵ nạn Đông Dương đã được định cư tại các quốc gia đệ tam, trong đó hơn 900 ngàn người được nhận là cư dân Hoa Kỳ.

– Theo Robert Funseth, năm 1985 có 7,000 “tù cải tạo” còn bị giam giữ. Đến năm 1989 số “tù cải tạo” giảm còn 200 người.

– Vẫn theo Robert Funseth, từ 1975 đến 1989 (trong 14 năm) chỉ có 3000 người (gồm 600 “tù cải tạo” và 2400 thân nhân) được nhập cảnh Hoa Kỳ.

– Theo Los Angeles Times, tính đến năm 1990 số người tỵ nạn Việt Nam ra khỏi nước là 850,000 người, trong đó 800,000 người được định cư tại Hoa Kỳ.

– Năm 1991 con số này lên tới hơn một triệu người theo văn khố của Đại Học San Diego.

– Theo US ODP, năm 1992 là năm tích cực nhất với 220,000 người được xuất cảnh và tái định cư tại Hoa Kỳ, trong đó có 56,000 tù nhân chính trị.

– Từ năm 1979 đến năm 1993 (trong 14 năm) có 67,400 người được xuất cảnh và tái định cư tại Hoa Kỳ, trong đó có 10,100 “tù cải tạo” nội trong năm 1993.

– Theo US ODP, đến tháng 6-1994 có 97,240 “tù cải tạo” đã được xuất cảnh và tái định cư tại Hoa Kỳ. Ngoài ra còn có 80 ngàn “tù cải tạo” đang chờ được phái bộ Hoa Kỳ phỏng vấn.

– Trong bản Phúc Trình gởi Quốc Hội, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cho biết dến tháng 8-1997 (sau 18 năm ban hành Chương Trình ODP 1979) có nửa triệu người Việt Nam, kể cả các tù nhân chính trị, đã được xuất cảnh và tái định cư tại Hoa Kỳ.

– Theo tài liệu của Đại Học San Diego thì đến năm 1997, tổng số những người Việt Nam bỏ nước ra đi là hai triệu ba trăm ngàn.

– Theo Wikipedia tổng số “tù cải tạo” bị giam giữ là khoảng 1 triệu người, trong đó 165,000 người đã tử tiết.

tổng số thuyền nhân vượt biển là 2 triệu người, trong đó 500,000 người đã tử vong.

Theo Robert Funseth kể từ 1979 là năm thiết lập Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự (ODP), trong hai năm kế tiếp 1980-1981 chỉ có 2,220 người xuất cảnh. Đến năm 1985 con số lên tới 13,371 người, ngang với số thuyền nhân vượt biển.

Tuy nhiên trong 3 năm sau, từ 1986 đến 1989, Hà Nội kiếm cớ đình chỉ hiệp thương, không phỏng vấn và cũng không cấp chiếu khán xuất cảnh cho “tù cải tạo”.

Mãi đến tháng 7-1989 khi ký Hiệp Ước Việt-Mỹ thiết lập Chiến Dịch Nhân Đạo H.O. Hà Nội mới hợp tác. Lúc này có 18,000 “tù cải tạo” (bị giam giữ từ 5 năm trở lên) được tái định cư tại Hoa Kỳ cùng thân nhân với tổng số là 72,000 người. Tính trung bình mỗi gia đình “tù cải tạo” có 4 người: 2 vợ chồng và 2 người con (lý tưởng là 1 trai, 1 gái).

VINH DANH “TÙ CẢI TẠO”.

Trong những cuộc thương thảo sơ khởi, vì hai bên không hy vọng đạt được một giải pháp chính trị toàn bộ, nên tất cả những quyết nghị tiên khởi dẫn đến việc ký kết Thỏa Ước đều thuộc phạm vi Chiến Dịch Nhân Đạo (H.O). Từ đó, danh xưng H.O. được Cộng Đồng Việt Mỹ sử dụng để chỉ những cựu tù nhân chính trị Việt Nam hiện sinh sống tại Hoa Kỳ.

Đối với tôi, danh xưng H.O. biểu tượng cho lòng dũng cảm, tinh thần phục vụ và hy sinh. Thực sự, tất cả những H.O. đều là những anh hùng trong thời đại chúng ta”.

(Trích văn thư của Tướng John W. Vessey ngày 10-6-1997 gửi Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam tại Minnesota)

VINH DANH QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA

Tháng tư 1973, Quân Lực Hoa Kỳ đơn phương rút khỏi Việt Nam. Tháng tư 1975, Quân Đội Bắc Việt xâm chiếm Miền Nam Việt Nam bằng võ lực. Mặc dầu vậy, Tướng William Westmoreland Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam đã nhận định như sau: “Chúng ta (Hoa Kỳ) không thất trận tại Việt Nam. Nhưng chúng ta đã không giữ lới cam kết với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Thay mặt Quân Lực Hoa Kỳ, tôi xin tạ lỗi với các bạn cựu chiến binh Quân Lực Miền Nam Việt Nam vì chúng tôi đã bỏ rơi các bạn”

(On behalf of the United States Armed Forces, I would like to apologize to the veterans of the South Vietnamese Armed Forces for abandoning you guys)…

Trong cuốn “No More Vietnams” Tổng Thống Richard Nixon quan niệm rằng: “Từ tháng 2-1968 (Tết Mậu Thân) đến tháng 10-1972 (sau Mùa Hè Đỏ Lửa), Bắc Việt đã thực sự thua trận, nhưng họ làm ra vẻ thắng trận, trong khi Việt Nam Cộng Hòa đã thực sự thắng trận…

“Hoa Kỳ đã phản bội Đồng Minh và đã thất bại trong việc thực thi những điều cam kết bảo vệ Độc Lập Tự Do của Việt Nam Cộng Hòa. Đây là sự phản bội và thất bại không tiền khoáng hậu trong Lịch Sử Hoa Kỳ”.

Luật Sư Nguyễn Hữu Thống

(Thuyền nhân vượt biển trưa ngày 30 tháng tư 1975.

Từ đó đến nay vẫn chưa có dịp về thăm quê hương)

Tháng 6-2011

Advertisements
This entry was posted in Thời Sự Hải Ngoại. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s