Tuệ Chương HLH- Muôn Sự Của Chung

Muôn sự của chung

Tuệ Chương Hoàng Long Hải

Không phải chỉ có những anh nhà văn nhà vẽ mới là những kẻ “Văn mình, vợ người.” Bọn làm chính trị đâu có thua chi. Sách của họ viết ra, không những là tư tưởng, đại tư tưởng, học thuyết, thuyết gia không những cho dân tộc họ mà cho cả nhân loại. Nhân loại cần phải nghe theo, noi theo, tin theo như người ta tin vào thánh kinh vậy, có khi còn hơn cả thánh kinh nữa.

Không phải tôi nói quá!

Vậy thì “Hồng Bảo Thư” của Mao không phải là một ví dụ sao? Sách in ra, được phát không, mỗi người dân Tầu, hoặc ít ra là đoàn viên Thanh niên Cộng Sản, ai ai cũng có một cuốn như thế, Dziệt Cộng gọi là “Sách Đỏ của Mao Chủ Tịch”. Sách luôn luôn để sẵn trong túi, khi cần là lấy ra ngay mà xem, tìm trong có cách xử lý, không khác chi “cẩm nang” khi sư phụ cho đệ tử “xuống núi” như trong truyện Tầu. Đó mới chỉ nói tới một cuốn. Mao còn bao nhiêu sách nữa, người Tầu phải đọc. Ai không đọc có thể bị khiển trách, trừng phạt, nhất là mấy cuốn như “Trì cửu chiến”, “Mâu thuẫn luận”, “Thực tiễn luận”, v.v…

Ông Hồ Chí Minh thì bảo “tôi không có tư tưởng gì cả”. Mao đã có sách rồi, ông Hồ đâu dám ra sách, soạn lý thuyết. Một là ông không có óc não chi cả, đã có “Mao chủ tịch” làm cái việc óc não ấy cho ông rồi. Hai là ông sợ Mao, có thể Mao cho rằng Hồ dám chơi leo, lên cho bằng “Mao chủ tịch”. Vậy là phạm thượng đấy. Ông Hồ sợ. Sau nầy, khi Mao và Hồ đều chết ra ma, đám đệ tự muốn “Thờ Phật ăn oản” mới bày ra cái việc rởm đời: “Tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Ông Qaddafi (Ga-da-phi) bên xứ Bắc Phi cũng không chịu kém ông Mao Xếnh Xáng bên phía trời Đông. Sau khi đảo chánh, nắm chính quyền, Gadaphi làm vài việc cho thỏa mãn lòng “tự ái dân tộc”. Ông đổi lịch, đổi tên các tháng trong lịch và cho phổ biến cuốn “Sách Xanh” (Green Book – Không phải sách lượng giá xe cũ ở xứ Mẽo nầy). Sách xanh của “Hướng dẫn cách mạng” (Guide of the Revolution), như ông ta tự xưng, không phải là những bài lý thuyết tràng giang đại hải mà chỉ là những bài ngăn ngắn, bàn về Dân chủ, Kinh tế, Xã hội, v.v…

Nghe đầu đề thì hay, nhưng chế độ chính trị kéo dài 42 năm cầm quyền của Gadaphi chỉ là một chế độ độc tài, “kinh tế gia đình” vì tất cả quyền lợi đất nước, hầu hết là các mỏ dầu lửa đều nằm trong tay gia đình ông, và xã hội thì “khố rách áo ôm”.

Hai nước I-Rắk và Libya, một xứ ở Trung Đông, một ở Bắc Phi có nhiều cái rất giống nhau: Những nước có nhiều dầu lửa hàng đầu thế giới, và dân chúng thì nước nào cũng “nghèo cạnh tranh”, có nghĩa dân chúng đều nghèo như nhau, không nước nào chịu thua nước nào. Xem TV, thấy dân chúng ai ai cũng mang dép cao su kiểu Nhựt, tức là loại rẻ tiền, dành cho người nghèo. Không thấy ai mang giày da, dép da. Người Việt Nam bây giờ cũng “nghèo cạnh tranh” đấy, không chịu thua dân bên các xứ đó.

Sách của Gadaphi cũng được in ra, phát không, dân chúng phải đọc.

Người Việt Nam chúng ta có chịu thua không.

Ở ngoài Bắc vĩ tuyến 17, ông Hồ sợ ông Mao nên “Tôi không có tư tưởng gì cả” như ông Hồ tự thú. Ở Nam vĩ tuyến 17, ông Nhu đâu có sợ ông Mao, nên ông cũng có chủ thuyết, làm “lý thuyết gia” cũng in sách, cho học tập. Công chức, quân nhân (sĩ quan, hạ sĩ quan Cần Lao Nhân vị đảng) phải kéo nhau về Vĩnh Long, học “Khóa nhân vị”, tập làm quen với không khí tôn giáo, “cầu xin ơn trên phù hộ chúng ta”, như câu cuối thường thấy trong “thông điệp của Ngô Tổng Thống”. Thiên hạ, nhà văn nhà vẽ, và cả ông thầy giáo dạy môn Việt Văn của tôi, cũng in sách “Chủ Nghĩa Nhân vị” và đi nhà thờ chăm hơn, hàng tuần, thay vì như trước kia, khi ông Ngô Đình Thục chưa dựng ngai ở Huế, mỗi năm ông chỉ đi có vài lần mà thôi.

Viết sách, in sách, phổ biến, bán, cho không, v.v… thì người viết sách hiểu cái gì, viết cái gì, dạy người ta cái gì? Họ đã hiểu họ chưa mà cho rằng mình hiểu cả dân tộc, hiểu cả nhân loại để viết sách dạy người, sống là phải thế nầy, thế nọ.

Ngay chính họ và cái thân xác của họ, họ cũng chưa hiểu hết nữa là.

Độc giả có tin tôi không?

Để trả lời, xin kể một câu chuyện, dĩ nhiên là chuyện hay, vì nó không phải là chuyện tôi bày đặt ra.

“Có một người lính, bị thương, đạp nhằm mìn Dziệt Cộng (Dziệt cộng là tôi thêm vào, vì đó là cảnh tôi thường thấy khi tôi ở lính), mất một chân.

“Anh được máy bay trực thăng (không phải máy bay lên thẳng “đơ” nói như Dziệt Cộng) đưa về Tổng Y viện Cộng Hòa. Mấy ông bác sĩ ở đó, lấy một cái chân của một người lính khác mới tử trận, ghép vào cái chân cụt của anh ta, sau khi thử nghiệm đâu đó cả rồi. Mấy tháng sau, người lính xuất viện, đi đứng bình thường.

“Tuy nhiên, có một điều gì đó, không bình thường, nên một hôm, anh lính tìm tới một “thiền sư” (không phải ông NH), hỏi:

– “Thưa thầy. Từ ngày con được ghép chân, mọi việc bình thường, không có chi trở ngại cả. Nhưng tại sao cứ đêm đêm, vài khi thức dậy, con có cảm tưởng cái chân ghép, không phải là cái chân chủa con.”

“Thiền sư hỏi:

– “Vậy hả? Cái chưn ghép không phải là cái chưn của con. Nhưng con có nghĩ rằng, cái chưn của con bị cắt bỏ đi, nó có phải là của con hay không?”

Nghe tới đó, anh lính như “ngộ” ra, bèn đứng dậy, nói:

– “Thưa thầy! Con hiểu ra rồi. Xin chào thầy, con về.”

Vậy thì cái gì là của ta, và cái gì không phải là của ta? Cái chân ghép không phải của ta? Cái chân bỏ đi mới là của ta.

Tại sao?

Sách Minh Tâm Bảo giám, Thiên thứ Tư, ghi lời Mạnh tử như sau:

(Mạnh tử viết thân thể phát phu thọ chi phụ mẫu

bất cảm hủy thương hiếu cho thủy dã

lập thân hành đạo dương danh hậu thế

dĩ hiển phụ mẫu hiếu chi chung dã)

Dịch:

Thầy Mạnh Tử nói:

“Mình vóc tóc da, chịu ơn cha mẹ chẳng dám phá hại là hiếu ban đầu
Lập thân hành đạo giúp đời, để lại danh tiếng đời sau là hiếu trọn vẹn

Chẳng dám hủy hoại thân thể là: Giận dữ nóng nảy cái gì đó, thề thốt chặt tay, nhảy lầu, tự vận là bất hiếu…”

Ngạn ngữ ta thì nói: “Cái răng, cái tóc là góc con người”. Truyện Tam Quốc kể khi Hạ Hầu Đôn bị tên vào mắt, ông rút tên ra, có cả con mắt ông còn dính vào đấy. Ông liền cắn con mắt hư, nuốt vào bụng, nói: “Của cha mẹ cho, không bỏ đi được.”

Theo tâm lý thông thường, cái chân được ghép là chân của người đã chết, cái chân của anh ta bị bỏ đi, mới là chân của của anh. Cái văn hóa “Thân thể phát phu, thọ chi phụ mẫu” đã ăn sâu vào dân tộc, vào con người anh mà anh có biết đâu. (Phát phu: tóc và da)

Bỏ đi cái thân thể của mình, là cái do cha mẹ ta mới có được, như thế, ông Mạnh Tử gọi là bất hiếu.

Vậy thì khi ông Nhất Linh tự tử, ông có bất hiếu hay không?

Giữ cái thân thể mà không giữ cái phẩm giá, coi có được không? Cái phẩm giá quí trọng hơn thân thể chứ! Ông Nhất Linh tự tử là hủy hoại cái thân thể để bảo tồn cái phẩm giá thì việc làm của ông ta đúng chớ không sai bao giờ.

Khi nghe tin ông Nguyễn Tường Tam tự tử, tổng thống Ngô Đình Diệm nói: “Ra tòa rồi cũng tha, có chi mà phải làm vậy!”

Nói vậy là ông Ngô Đình Diệm hiểu sai hai điều:

1)- Thứ nhứt, những người đã đi làm cách mạng thì không sợ bị tù. Chết họ còn chưa sợ, huống chi tù. Nguyễn Thái Học cùng các đồng chí của ông, những người bị lên đoạn đầu đài, có ai run sợ đâu mà họ còn hùng dũng hô to: “Viêt Nam vạn tuế”. Ông Diệm khi làm cách mạng (từ quan, hoạt động chống Pháp, ông cũng không sợ bị tù). Khi làm chính trị, giữ chức tổng thống, ông có khác đi chăng, ông sợ tù chăng, nên mới nói như thế?

2)- Ông Nhất Linh là một nhà cách mạng, là một lãnh tụ đảng phái cách mạng, lại là một nhà văn nữa, lãnh tụ một nhóm văn hóa đi tiên phong trong làng báo chí và văn học nước ta, rất được người Việt Nam kính trọng về cả hai mặt chính trị và văn học, không lý ông ta sợ tù? Ông Nhất Linh tự tử vì sợ tù? Nếu là một người tầm thường, ông Nhất Linh sợ chết hơn sợ tù chứ. Tù còn có ngày về. Chết là coi như chấm dứt cuộc đời

Ông Diệm nói như thế là ông ta không hiểu gì về ông Nhất Linh cả, hay ông Diệm “suy bụng ta ra bụng người”. Ông Diệm sợ ở tù nên nghĩ rằng người khác cũng sợ bị tù. Năm 1963, tôi còn đi dạy học. Nghe câu chuyện nầy, có người bạn đồng nghiệp của tôi nói: “Con chim sẻ làm thế nào hiểu được con chim đại bàng”. Còn nói như ông Nguyễn Văn Lục, thì ông Nhất Linh tự tử vì bị bệnh thần kinh. Nói vậy thì người Việt Nam ít ai biết giữ phẩm giá cả hay chăng, đều là những con chim sẻ cả hay chăng?

Tổ tiên chúng ta, “tiến vi quan, thối vi sư” hay “thối vi dân, vi nông” là chuyện thường tình. Ông Chu Văn An, ông Trạng Trình, được thì làm quan, “xin chém đầu 7 nịnh thần mà vua không nghe” nên các ông cáo quan.

Ông Bảo Đại cũng đã “cáo vương” thay vì “cáo quan”.

Tháng 8 năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền. Ông Bảo Đại thoái vị. Người ta kể Tôn Quang Phiệt, giáo sư trường Khải Định, hiệu trưởng trường Thuận Hóa ở Huế, tay tổ Cộng Sản ở Huế xúi Phạm Khắc Hòe, “tổng lý văn phòng đức kim thượng” vào gặp ông Bảo Đại, lấy cái gương vua Louis 16, bị giết trong cuộc cách mạng 1789 và cái gương vua Nicholas đệ nhị của Nga mà dọa, để ông Bảo Đại sợ mà thoái vị. Không rõ ông Bảo Đại có mắc mưu hai ông Phiệt và ông Hòe hay không, nhưng bấy giờ cũng có người khuyên ông Bảo Đại không nên thoái vị.

Người thứ nhất là ông Ngô Đình Khôi, bấy giờ đã bị Pháp cất chức tổng đốc Quảng Nam. Ngô Đình Khôi cho người vào Đại Nội tâu với vua Bảo Đại rằng ông có người con trai, Ngô Đình Huân, là người “thân Nhựt”, hiện đang làm thông ngôn cho Yokoyama Masayuki, trưởng phòng Văn Hóa Nhựt tại Saigon, sẽ yêu cầu Nhựt giúp đỡ, bảo vệ ngai vàng cho nhà vua.

Người thứ hai là một viên tướng Nhựt. Sau khi Việt Minh cướp chính quyền ở Hà Nội, viên tướng Nhựt đến Huế, xin gặp nhà vua, khuyên Bảo Đại không nên thoái vị. Quân đội Nhựt sẽ bảo vệ nhà vua và hoàng gia. Vua Bảo Đại hỏi lại, nếu làm như thế có đổ máu không. Người Nhựt bảo là không thể tránh khỏi, nên vua Bảo Đại từ chối. Ông không muốn dân tộc ông phải điêu linh thêm nữa, hãy để ông thoái vị.

Còn một chuyện nữa: Sau khi vua Bảo Đại thoái vị, ông sai kiểm lại kho báu trong Đại nội để bàn giao cho cái gọi là “chính phủ cách mạng”.

Phạm Khắc Hòe hỏi:

“Thưa ngài, về “kim sách” và “ngân sách” (sách làm bằng vàng và bằng bạc) có giao cho họ không?”

Bảo Đại bảo: “Cái gì sắt thép thì khỏi giao, còn lại thì giao hết cho họ, kẻo họ bảo rằng ta có lòng tham”.

Ông Ngô Đình Diệm cũng dự tính từ chức hai lần, một là khi ông đại tá Nguyễn Chánh Thi đảo chánh ngày 11 tháng 11 năm 1960, và lần thứ hai là ngày 1 tháng 11 năm 1963. Hai lần dự tính từ chức đều không thành vì sự ngăn cản của vợ chồng ông Nhu. Chuyện cản ông Diệm thành ra giết ông ta.

Cũng xin nói thêm một chuyện đáng buồn trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Mấy năm nay, người ta bỗng nhiên tổ chức kỷ niệm ngày mất của “Ngô tổng thống” rình rang hơn trước, trống kèn cờ xí nhiều hơn trước, trong khi ngày mất của ông Nhất Linh, 7 tháng 7 thì diễn ra một cách lặng lẽ, ít ai biết tới hoặc có năm không nghe thấy gì hết.

Tại sao vây nhỉ?

Ông Nhất Linh, năm 1945, vì tình thế, hợp nhất đảng Dân Chính của ông với Việt Nam Quốc Đảng. Vì vậy, ông cũng là lãnh tụ VNQDĐ kể từ đó.

Việt Nam Quốc Dân Đảng bị đánh phá, giết chóc tù đầy, ít nhất là 3 lần, mà lần nào cũng bị “đánh phá triệt để”, như Cộng Sản chủ trương. Lần thứ nhứt là sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930, lần thứ hai là do Cộng Sản, từ “Vụ Ôn Như Hầu” kéo dài cho tới bây giờ. Một lần nữa là cuộc đánh phá của chính quyền Ngô Đình Diệm sau khi ông Ngô Đình Diệm làm tổng thống được ít lâu.

Trước tình cảnh như thế, số đảng viên VNQDĐ sống sót và ra hải ngoại đâu được bao nhiêu? Từ lực lượng không đông, sinh hoạt rời rạc vì phài trãi dài trên nhiều tiểu bang ở Mỹ, nên việc tổ chức ngày kỷ niệm Nhất Linh quyên sinh gặp nhiều trở ngại là đương nhiên.

Trường hợp ông Diệm lại khác, và đáng thương cho ông!

Ông là một người yêu nước, nhưng chính anh em nhà ông đã lợi dụng ông, mưu đồ quyền lực, quyền lợi. Chính vì họ mà ông Diệm bị chết thảm, chết “oan”..

Bây giờ, người ta tưởng nhớ tới ông thật mà làm lễ rình rang như vậy, hay người ta muốn dựng cái thây ma của ông dậy mà mưu đồ gì đây?

Việc dời mộ ông Ngô Đình Diệm, ông Nhu thực hiện nhiều lần. Đầu tiên người ta chôn hai ông trong khu vực bộ Tổng Tham Mưu/ QLVNCH. Năm sau mới dời ra “mả Tây”, về sau gọi là nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi. Việt Cộng giải tỏa nghĩa trang nầy, xương cốt ông và ông Nhu bị dời về Lái Thiêu. Dziệt Cộng sợ dân chúng ngưỡng mộ ông mà tới lui thăm viếng, cầu nguyện nên không cho dựng bia có ghi tên mà chỉ ghi gọn là ông Huynh, ông Đệ. Ai về Lái Thiêu thăm mộ hai ông thì phải hỏi là “mộ ông Huynh, ông Đệ” người dân mới biết.

Giờ đây, mộ hai ông vẫn lặng lẽ, vắng người thăm viếng, cô đơn ở Lái Thiêu!

Điều ấy rất đáng buồn.

“Nghĩa tử là nghĩa tận”. Nhưng người ta có để cho ông Ngô Đình Diệm được yên đâu!!!

&

Không ưa làm quan, làm vua nữa thì cáo quan, thoái vị!

Thoái vị, từ chức là về với làng quê của mình. Ông Đào Tiềm có bài “Qui khứ lai từ” rất nổi tiếng trong văn học Trung Hoa:

“Đi về sao chẳng về đi,

Ruộng hoang vườn rậm còn chi không về?

Đem tâm để hình kia sai khiến,

Còn ngậm ngùi than vãn với ai?

Ăn năn thì sự đã rồi,

Từ đây còn lại, biết thôi mới là.

(xem phụ lục)

Cái tư tưởng “về đi” ăn sâu vào lòng tổ tiên chúng ta. Vì vậy nên cụ Trạng Trình nói: “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ” hoặc Trần Tế Xương: “Khôn nơi cờ bạc là không dại”.

Chính trị là một “trường cờ bạc”, ở đó, lòng tham của người ta thì vô hạn. Một triều đại Ngô Đình, tưởng như tài sản quốc gia là của riêng, khai thác gỗ, phố xá, khách sạn, đất đai, ruộng rẫy, không có cái gì có lợi mà anh em nhà Ngô không vơ vào, dù là anh nhà quê ít học như “cậu cố trầu”, một nhà tu hành như ông Ngô Đình Thục, hay đệ nhứt phu nhân. (Xem “Anh Em nhà họ Ngô”, trong Viết Về Huế – tập 3 – cùng tác giả Văn Mới xuất bản).

Ngày nay, bên Trung Đông, Bắc Phi cũng vậy. Đất đai là sa mạc, tài sản lớn nhứt của đất nước là dầu lửa thì ông Saddam Hussein, ông Gadaphi vơ vết cho mình, cho gia đình mình.

Bốn mươi hai năm cầm quyền của Gadaphi là 42 năm độc tài chuyên chế, dân chúng thiếu ăn, thiếu mặc. Có tiền, ông Gadaphi cũng như con cái ông sống vương giả, hoang phí. Họ cố ôm giữ lấy quyền lợi, đến chết mới buông, buông là vì không còn giữ được nữa. Họ cố giữ lấy tài sản, tưởng như có nó mới có hạnh phúc.

Văn hóa Á Đông có khác. Tổ tiên chúng ta cũng khác nên người Việt chúng ta mới có câu “Tiến vi quan, thối vi dân, vi sư, vi nông…” Làm gì cũng được, miễn đừng làm quan.

Từ những tấm gương đó, chúng ta nhận ra được rằng tổ tiên chúng ta có rất nhiều điều hay mà điều hay nhứt là họ tìm hạnh phúc ở chỗ cho đi chớ không phải lấy vào.

Người Cộng Sản Việt Nam, học chủ nghĩa Mác Lê của người Âu Tây mà quên mất văn hóa của người Việt. Chìm đắm trong quyền lực và giàu có, họ cũng sẽ như Saddam, như Gadaphi, chỉ có đường đi mà không có đường về.

hoànglonghải

Phụ lục

Qui khứ lai từ

Từ Long dịch thơ:

Đi về sao chẳng về đi,

Ruộng hoang vườn rậm còn chi không về?

Đem tâm để hình kia sai khiến,

Còn ngậm ngùi than vãn với ai?

Ăn năn thì sự đã rồi,

Từ đây còn lại, biết thôi mới là.

Lối đi lạc chưa xa là mấy,

Nay khôn rồi chẳng dại như xưa.

Con thuyền thuận nẻo gió đưa,

Gió hây hây áo thuyền lơ lửng chèo.

Hỏi hành khách lối nào đi tới,

Bóng mập mờ trời mới rạng đông.

Miền quê nẻo trước xa trông,

Chân hăm hở bước đường mong tới nhà.

Chạy đón chủ năm ba đầy tớ,

Đứng chờ ông mấy đứa trẻ con;

Rậm rì bao xóm con con,

Mấy cây tùng cúc hãy còn như xưa.

Tay dắt trẻ vào nhà mừng rỡ,

Rượu đâu đà sẵn chứa đầy vò;

Thoạt ngồi tay đã nghiêng hồ,

Cười nom sân trước thấp tho mấy cành.

Ngồi riễu cợt một mình trước sổ;

Khéo cũng hay vừa chỗ rung đùi;

Thăm vườn dạo thú hôm mai,

Cửa dù có, vẫn then cài như không.

Chống gậy dạo quanh vườn lại nghỉ,

Ngắm cảnh trời khi ghé trông lên:

Mây đùn mấy đám tự nhiên,

Chim bay mỏi cánh đã quen lối về.

Bóng chiều ngả bốn bề bát ngát,

Quanh gốc tùng tựa mát thảnh thơi.

Từ đây về thực về rồi,

Thôi xin từ tuyệt với người vãng lai.

Vì ta đã với đời chẳng hiệp,

Cần chi mà giao thiệp với ai.

Chuyện trò thân thích mấy người,

Bạn cùng đèn sách khi vui đỡ buồn.

Người làm ruộng ôn tồn hỏi chuyện,

Tới xuân rồi sắp đến việc ta.

Hoặc truyền sắm sửa câu xa,

Hoặc khi đủng đỉnh thuyền ra coi đồng.

Dưới khe nọ nước vòng uốn éo,

Bên đường kia gò kéo gập ghềnh;

Cỏ cây mơn mởn màu xanh,

Suối tuôn róc rách bên ghềnh chảy ra.

Ngắm muôn vật đương mùa tươi tốt,

Ngán cho ta thôi trót già rồi.

Thôi còn mấy nỗi ở đời,

Khứ lưu sao chẳng phóng hoài tự nhiên,

Cớ chi nghĩ thêm phiền tức dạ,

Đi đâu mà tất tả vội chi?

Giàu sang đã chẳng thiết gì,

Cung tiên chưa dễ hẹn kỳ lên chơi.

Chi bằng lúc chiều trời êm ả,

Việc điền viên vất vả mà vui.

Lên cao hát một tiếng dài,

Xuống dòng nước chảy ngâm vài bốn câu.

Hình thể này mặc dầu tạo hóa,

Tới lúc nào hết cả thì thôi.

Lòng ta phó với mệnh trời,

Đừng ngờ chi nữa cứ vui vẻ hoài.

===========

__._,_.___

Reply to sender | <a href="mailto:PhoNang | Reply via web post | Start a New Topic

Messages in this topic (1)

Recent Activity:

· New Members7

Visit Your Group

MARKETPLACE

Stay on top of your group activity without leaving the page you’re on – Get the Yahoo! Toolbar now.

Switch to: Text-Only, <a href="mailto:PhoNang-digest • UnsubscribeTerms of Use

.

__,_._,___

Advertisements
This entry was posted in Phiếm Luận. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s