Ls. Nguyễn Thành – Đem bọn tội phạm Việt Cộng ra trước Toà Án Quốc Tế hay Toà Án các Quốc Gia

Lời giới thiệu:  Vào ngày 8 tháng 10 năm 2011, tại đài truyền hình Fairfax Public Access-Virginia, một cuộc phỏng vấn về đề tài Tòa Án Hình Sự Quốc Tế đã được Bùi Dương Liêm thực hiện  với Luật Sư Nguyễn Thành.
Vì thời gian có hạn không thể nói hết được, nên sau cuộc phỏng vấn, Luật Sư Nguyễn Thành có gửi đến chúng tôi bài viết sau đây để làm sáng tỏ thêm vấn đề.
Bùi Dương Liêm, Producer của Chương Trình Phỏng Vấn và Tìm Hiểu thuộc Fairfax Public Access, xin giới thiệu với quý vị bài viết của Luật Sư Nguyễn Thành.

Đem bọn tội phạm Việt Cộng ra trước Toà Án Quốc Tế hay Toà Án các Quốc Gia
Ls. Nguyễn Thành

Lời Thưa :

Bài dưới đây viết cho Đặc San Luật Khoa phát hành vào dịp “Hội Ngộ Mùa Thu Cựu Sinh Viên Luật Khoa Sàigòn-Huế-Cần thơ” ở San Jose, California, Hoa Kỳ, ngày 16/10/2010 sắp tới. Đây chỉ là một phần nhỏ của bài nghiên cứu khá dài do người viết biên soạn ngay sau khi Toà Án Hình Sự Quốc Tế  [International Criminal Court=ICC] ra đời ngày 11/4/2002 và bài viết đã được báo chí ở Bắc California phổ biến hồi tháng 6 và 7/2002.

Gần đây, cùng với việc đưa đất nước đến chỗ nguy cơ trở thành Tây Tạng 2 của TC, VC còn đang mưu toan hoàn tất việc bàn giao Hoàng Sa Trường Sa cho TC qua Luật Biển LHQ nên việc đem các tội ác của Việt-Cộng ra trước Công Lý Quốc Tế lại được nêu lên. Mặt khác, từ Sàigòn, ngày 22/8/2010 vừa qua các cựu tù chính trị lâu năm nhất tố cáo: Hiện vẫn còn hàng trăm người bị giam cầm trái phép và vô hạn, trong đó có Đại Úy QLVNCH Nguyễn Hữu Cầu, bị giam giữ trái phép đã gần 34 năm và bị hành hạ đến gần mù cả 2 mắt.

Khuynh hướng của Luật Pháp Quốc Tế hiện nay liệt các “tội bắt bớ, hành hạ, thủ tiêu,… người đối lập” vào loại “tội ác nhân quyền” hay “tội ác chống nhân loại” và kẻ bị cáo buộc “có thể bị đem ra xét xử bất cứ ở đâu” và “bị truy lùng đến tận cùng trái đất để đem ra trước công lý.”

Người viết xin được phổ biến rộng rãi bài này vì những gì được nêu trong bài vẫn còn nguyên gía trị và hữu ích cho việc đưa bọn tội phạm VC ra trước Công Lý Quốc Tế, một phương cách khả thi cứu nguy đất nước trước hiện tình tổ quốc lâm nguy hơn bao giờ hết.

Khuynh Hướng của Luật Pháp Quốc Tế hiện nay

Sau Thế-Chiến II [1939-1945], Tòa Án Hình Sự Quốc Tế “ad hoc” Nuremberg và Tokyo [1] được thiết lập để xét xử bọn chóp bu quốc-xã Đức và quân-phiệt Nhật, những kẻ đã gây chết chóc, tàn tật cho nhiều triệu người trên thế giới. Khi hai Tòa Án này hoàn tất nhiệm vụ cuối năm 1946, bốn Công Ước Quốc Tế về “chiến tranh” và “nhân quyền” ra đời ở Genève với ước mong là các hành vi tàn ác man rợ sẽ không còn tái diễn nữa. Nhưng cuộc chiến tranh lạnh giữa khối Tự Do và Cộng Sản lại tiếp diễn, kéo dài hơn nửa thế kỷ và chém giết, thủ tiêu, tra tấn, tù đầy,… lại hoành hành tàn bạo khắp nơi và thủ phạm không hề bị truy tố, xét xử ở bất kỳ Tòa Án nào.

Sau khi khối Cộng Sản tan rã [năm 1991], cộng đồng thế giới lại bắt tay vào việc thiết lập Tòa Án Hình Sự Quốc Tế “ad hoc” Bosnia và Rwanda để trừng trị các tội ác man rợ ở Âu và Phi-châu, thực hiện châm ngôn “ở đâu có xã hội, ở đó phải có luật pháp” [ubi societas, ibi jus]. Và khuynh hướng quốc tế ngày càng đòi hỏi một Tòa Án Hình Sự Quốc Tế “thường trực” để xét xử những tội ác đối với nhân loại, một tòa án quốc tế hữu hiệu có thẩm quyền tài phán bao trùm khắp nơi mới có thể duy trì được “hòa bình, an ninh” thế giới, hai mục tiêu chính của LHQ.

Tháng 6/1998, một hội nghị quốc tế qui tụ 4/5 hội viên LHQ và trên 800 “tổ chức phi chính phủ” hội họp ở trụ sở chi nhánh của Hội Đồng Kinh Tế-Xã Hội LHQ ở Rome [Ý] cùng với Tổng Thư Ký LHQ Kofi Annan để bàn thảo việc thiết lập Toà Án Hình Sự Quốc Tế “thường trực”. Ngày 17/7/1998, 121 nước tham dự hội nghị ký kết Quy Chế Rome thiết lập ICC nhưng ICC vẫn chưa ra đời vì chưa đủ 60 nước phê chuẩn theo quy định. Trong khi đó, Toà Án Quốc Tế Bosnia lại “dậm chân tại chỗ” và Toà Án Quốc Tế Rwanda thì “thất bại” hoàn toàn vì thiếu tài chánh.

Thẩm phán Tây Ban Nha Baltasar Gapzon, nhà tranh đấu nhân quyền tích cực, không thể kiên nhẫn được nữa khi tội ác nghiêm trọng xảy ra khắp địa cầu và tội phạm thì vẫn nhởn nhơ. “Cuộc cách mạng xanh” của giới thẩm phán xảy ra: Ngày 16/10/1998, Thẩm phán Gapzon đã gây chấn động thế giới khi ký trát bắt giam cựu Tổng Thống Chile Augusto Pinochet về các tội ác xảy ra trong thời gian cầm quyền [1973-1990] khi ông này đến Anh, dẫn đến phán quyết “làm rung chuyển luật pháp quốc tế” của Tòa Tối Cao Anh.
Ngày 2/3/2000, kết thúc vụ án Pinochet, Toà Tối Cao Anh phán quyết: “Một nguyên thủ quốc gia bị cáo buộc vi phạm nhân quyền có thể bị đem ra xét xử bất cứ ở đâu.” [2]
Luật gia trứ danh Pháp Samuel Pisar trả lời phỏng vấn về phán quyết của Toà Tối Cao Anh đã nói: “Sự đòi hỏi phổ quát ngày nay là những tội phạm chống nhân loại phải bị truy lùng đến tận cùng trái đất, bất cứ ở đâu và bất kỳ lúc nào có thể tìm ra chúng để đem ra xét xử trước công lý.” [3]

Tiếp theo, hàng loạt sự kiện xảy ra trên thế giới đã thể hiện sự hân hoan đón nhận phán quyết lịch sử của Toà Tối Cao Anh hay “luật lý” của Thẩm Phán Gapzon.
Năm 2002, Toà Liên Bang Mỹ ở New York đã chấp nhận thụ lý vụ thân nhân sinh viên bị sát hại ở Thiên An Môn ngày 8/6/1989 kiện Thủ Tướng Trung-Cộng Lý Bằng và ra phán quyết khuyến cáo Tổng Thống Zimbabwe Magube phải bồi thường thiệt hại cho các nạn nhân “bị tra tấn, hành hạ” hay thân nhân các người “bị sát hại” bởi đảng cầm quyền của Magube ở Zimbabwe, khi Lý Bằng và Magube đến New York họp Đại Hội Đồng LHQ hàng năm với tư cách nguyên thủ một nước.
Ngày 24/4/2002, thẩm phán Gapzon cùng với một đồng nghiệp ngưòi Pháp yêu cầu Tòa Án Anh cho phép thẩm vấn Kissinger, khi ông này đến diễn thuyết trước 2500 doanh gia ở đại sảnh đường Royal Albert Hall, London, về những liên hệ của Kissinger với các tội ác xảy ra ở Chile dưới thời Pinochet [1973-1990] và tuy Gapzon không thành công nhưng đã khiến Kissinger phải bỏ dở buổi diễn thuyết và vội vàng về Mỹ.
Ngày 11/4/2002, Toà Án Hình Sự Quốc Tế “thường trực” đầu tiên của thế giới ra đời tại trụ sở LHQ ở New York, sau khi được 10 nước phê chuẩn trong cùng một ngày, nâng số nước phê chuẩn Quy Chế Rome lên 66, vượt quá số 60 quy định, và Toà Án có hiệu lực từ ngày 1/7/2002. Cho đến nay, Toà Án Quốc-gia của Anh, Tây Ban Nha, Pháp, Canada,… đều có thẩm quyền tài phán “quốc tế” như phán quyết của Toà Tối Cao Anh trong vụ Pinochet.

Tội ác của Việt Cộng và Công Lý Quốc Tế

1. Tòa Án Hình Sự Quốc Tế “tạm thời” [“ad hoc”]

Ngày 25/5/1993, lần đầu tiên HĐBA ra Nghị Quyết thiết lập Tòa Án Hình Sự Quốc Tế “tạm thời” [International Criminal Court “ad hoc” Bosnia] để truy tố nguyên thủ đương quyền và 26 cộng sự viên về các “tội ác chống nhân loại” và “tội ác chiến tranh” xảy ra trong phạm vi một nước, gồm đương kim Tổng Thống Liên Bang Nam Tư Slobadan Milosovic, đương kim Tư Lệnh Quân Đội Nam Tư Dragoljub Ojdanic và Tổng Thống Serbia, Milan Milutinovic, trong Liên Bang Nam Tư.

Công tố viên đầu tiên của Tòa Án này là bà Louise Arbour đã nổi tiếng thế giới khi ra trát bắt giam đích danh Tổng Thống Milosovic và cộng sự viên về các “tội ác nghiêm trọng” xảy ra trong lúc cầm quyền. Công tố viên kế nhiệm là bà Carla D. Ponte, trong phiên xử khai mạc vào tháng 2/2002, tuyên bố: “Tòa Án này bắt đầu xét xử cựu Tổng Thống Nam Tư với những cáo buộc về “tội diệt chủng” và nhiều “tội ác nghiêm trọng” khác. Chúng ta sẽ được thấy nền Công Lý Thế Giới đang được tiến hành.”

Ngày 11/4/2002, Quốc Hội Nam Tư đã hợp tác với Toà Án Quốc Tế Bosnia khi thông qua đạo luật về dẫn độ, cho phép chính phủ Nam Tư bắt giữ và dẫn độ tới Tòa Án đang diễn ra ở La Hague các tội phạm bị truy tố. Ngày 17/4/2002, hành pháp Nam Tư lệnh cho các bị cáo tự nộp mình cho Tòa Án để đổi lấy quyền tại ngoại trước khi xét xử. Tư Lệnh Quân Đội Ojdanic bị cáo buộc tội cưỡng bách dân Albania ra khỏi Kosovo để dành riêng vùng này cho sắc dân Serb là người đầu tiên đến trình diện Tòa Án. Phó Thủ Tướng Nam Tư Nikola Sainovic cũng bay sang Hòa Lan trình diện Tòa cùng với Trưởng các trại giam vùng Bosnia, Momcilo Gruban, người bị cáo buộc về các tội tra tấn, đánh đập, hãm hiếp tù nhân và làm chết nhiều người. Và chỉ vài giờ đồng hồ sau khi Quốc Hội Nam Tư thông qua luật dẫn độ cho phép bắt giữ và dẫn độ các bị cáo, Bộ Trưởng Nội Vụ Nam Tư là Vlajko Stojilkovic đã tự tử để tránh sự nhục nhã.

Trong 3 bản cáo trạng dầy gần 160 trang, Milosovic và cộng sự viên bị cáo buộc về các “tội ác chống nhân loại” và “tội ác chiến tranh”, bao gồm các “tội lạm quyền”, “tội tra tấn, hành hạ thường dân vô tội”, “tội tra tấn, ám sát, thủ tiêu, bỏ tù các nhà đối lập”, “tội cưỡng bách các dân tộc thiểu số phải rời bỏ nơi họ đang sinh sống,”… Theo Ls Phạm Thanh Dân, từng hành nghề nhiều năm tại Paris, “tất cả các tội ác nghiêm trọng của tập đoàn CS cầm quyền Hà Nội đối với dân tộc VN suốt bao năm qua là những tội ác chống nhân loại và bất khả thời tiêu.” [4]

2. Tòa Án Quốc Gia có Thẩm Quyền “quốc tế”?
Thật ra, trước khi xảy ra phán quyết lịch sử ngày 2/3/2000 của Toà Tối Cao Anh, toà án một số nước đã có các phán quyết “nới rộng” thẩm quyền tài phán của Toà Án Quốc Gia.

-Vụ án Eichmann: Sau khi Tòa Án Quốc Tế “ad hoc” Nuremberg xét xử xong nhóm đầu xỏ Quốc-Xã Đức vào cuối năm 1946, Tòa Án các nước vẫn tiếp tục truy nã và xét xử bọn tội phạm Đức còn sót lại. Điển hình là Aldolf Eichmann, chuyên viên giết người của Hitler, đã dùng lý lịch và thông hành giả lẩn trốn ở nhiều nước và sau cùng bị Do Thái bắt ở Argentina. Ngày 11/12/1961, Tòa Án Quốc Gia Do Thái đã lên án tử hình Eichmann về tội ác diệt chủng đối với dân Do Thái trong Thế Chiến II. Qua vụ án Eichmann, Tòa Án Quốc Gia Do Thái đã minh định 2 nguyên tắc quan trọng:
[a] Nguyên tắc “luật hình có giá trị hồi tố đối với các tội phạm nghiêm trọng.” Khi Eichmann phạm tội ác đối với dân Do Thái vào thời điểm 1939-1945, nước Do Thái chưa ra đời. Do Thái ra đời vào ngày 14/5/1948 bởi Nghị Quyết của LHQ vào ngày 29/11/1947. Do Thái ban hành “luật hình có hiệu lực về quá khứ” năm 1948 để trừng phạt nhóm Đức Quốc-Xã lẩn trốn, chưa bị trừng trị.
[b] Nguyên tắc “lãnh thổ không giới hạn thẩm quyền của Tòa Án các nước đối với các tội phạm nghiêm trọng” cũng được Tòa Án Do Thái căn cứ vào để ra phán quyết trừng phạt Eihmann về các tội ác nghiêm trọng xảy ra ngoài lãnh thổ Do Thái gần 20 năm trước.

-Vụ án Noriego: Viện dẫn lý do gìn giữ kênh đào Panama theo hiệp ước Mỹ-Panama [1978] và lý do bảo vệ công dân Mỹ, ngày 20/12/1989 Tổng Thống George Bush cho quân đội Mỹ hành quân vào Panama bắt Tổng Thống Panama Manuel A. Notiego đem về giam ở Florida. Năm 1992, Toà Liên Bang Mỹ ở Florida tuyên án phạt Noriego 30 năm tù về các “tội rửa tiền” và “tội buôn lậu ma túy.” Qua vụ án Noriego, Tòa Liên Bang Mỹ, ngoài sự công nhận nguyên tắc “lãnh thổ không giới hạn thẩm quyền của Toà Án Quốc Gia đối với các tội ác nghiêm trọng” còn minh định “tội rửa tiền” và “tội buôn lậu ma túy” là “tội ác nghiêm trọng” và “bị luật pháp quốc tế trừng trị.”

-Vụ án Pinochet: Ngày 16/10/1998, thế giới sửng sốt trước tin cựu Tổng Thống Chile Augusto Pinochet bị Cảnh Sát Anh bắt giam tại London khi Pinochet tới đây nghỉ hè theo lời mời của bà M. Thatcher, cựu Thủ Tướng Anh, bạn thân của Pinochet và Tổng Thống Mỹ R. Reagan. Người ký trát nã bắt quốc tế là thẩm phán Baltasar Gapzon đã cáo buộc Pinochet 35 tội ác, trong đó có “tội ác diệt chủng, bắt cóc, tra tấn, thủ tiêu đối lập”,… trong thời gian cầm quyền ở Chile [1973-1990], với trên 3,000 người bị giết, hơn 1,000 mất tích, trong đó có cả người ngoại quốc.

Toà Sơ Thẩm London quyết định Anh có thể dẫn độ Pinochet tới Tây Ban Nha một cách hợp pháp. Trái lại, Toà Thượng Thẩm bác bỏ quyết định của Toà dưới và phán quyết việc bắt giữ Pinochet là trái luật vì Pinochet được hưởng “quyền đặc miễn truy tố”. Nội vụ lên Tòa Tối Cao Anh, gồm 5 vị Thẩm Phán chuyên nghiệp [như Tối Cao Pháp Viện Mỹ] và ngày 2/3/2000, Tòa Án này phán quyết: “Một nguyên thủ quốc gia bị cáo buộc vi phạm nhân quyền có thể bị đem ra xét xử bất cứ ở đâu.” Theo “tập tục pháp lý”, Tòa Án có thẩm quyền xét xử Pinochet phải là một Tòa Án Hình Sự Quốc Tế như Tòa Án xét xử Milosovic hay một Tòa Án Quốc Gia của Chile mới có thẩm quyền tài phán. Nay, sau án lệ Pinochet, hầu như tất cả các Tòa Án Quốc Gia trên thế giới đều có quyền truy tố và xét xử những tội ác nghiêm trọng như trường hợp Pinochet.

Được tin Pinochet bị bắt ở Anh, các nạn nhân sống sót và gia đình các người bị sát hại đã cùng với các nhà tranh đấu cho nhân quyền biểu tình rầm rộ ở Chile đòi dẫn độ Pinochet đến Tây Ban Nha. Trong khi đó, Tổng Thống Chile Eduardo Frei và bà Magaret Thatcher ráo riết vận động Anh phóng thích Pinochet, trả về nước để Pinochet ra trước Toà Án Quốc Gia của Chile.
Về phần Pinochet, tuy phạm nhiều tội ác trong lúc cầm quyền nhưng đã được Tòa Án Chile ân xá và được phong tước Thượng Nghị Sĩ trọn đời nên tin tưởng là sẽ được hưởng quyền đặc miễn truy tố về trách nhiệm cá nhân trong lúc cầm quyền. Cuối cùng, dàn luật sư danh tiếng biện hộ Pinochet đã cứu Pinochet khỏi bị dẫn độ vì lý do nhân đạo, với sự hỗ trợ mạnh mẽ của phe bảo thủ Anh và bà Thatcher. Theo giám định y khoa của 4 bác sĩ, Pinochet 84 tuổi bị bịnh tiểu đường, bịnh tim và từng ngất xỉu 2 lần trong lúc bị giam ở London, bộ não bị chấn thương, chân phải gần tê liệt,… không thể chịu đựng nổi thủ tục pháp lý lâu dài ở Tây Ban Nha.

Theo luật dẫn độ Anh, Toà Án Anh không có quyền ra lệnh dẫn độ; quyền này và quyền phóng thích thuộc về hành pháp Anh. Do đó, hành pháp Anh [lúc đó là Tổng Trưởng Jack Straw] đã ra lệnh phóng thích và trả Pinochet về Chile vì lý do nhân đạo. Các tổ chức đấu tranh cho nhân quyền và những người chống đối việc phóng thích Pinochet biểu tình ở London để ngăn chặn chuyến bay chở Pinochet về Chile không thành công vì tới trễ. Chuyến bay chở Pinochet của không lực Chile đã khởi hành, chỉ 2 giờ sau khi có quyết định phóng thích Pinochet, không ghé bất cứ nước nào vì sợ bị bắt lại, ngoại trừ một hòn đảo nhỏ thuộc Anh-quốc để tiếp tế nhiên liệu.

3. Tòa Án Hình Sự Quốc Tế “thường trực”? [ICC] [5]
Trước sự “chậm trễ” của Toà Án Quốc Tế “tạm thời” Bosnia và trước tình hình tội ác diệt chủng, tội ác chống nhân loại, tội ác chiến tranh,… ngày càng gia tăng, tháng 6/1998 một Hội Nghị Quốc Tế quy tụ 4/5 nước hội viên LHQ hội họp ở Rome cùng với ông Tổng Thư Ký LHQ Kofi Annan bàn thảo việc thiết lập một Tòa Án Hình Sự Quốc Tế “thường trực” có thẩm quyền tài phán đối với tất cả các tội ác nghiêm trọng trên toàn thế giới.

Sau 5 tuần lễ thảo luận, ngày 17/7/1998, 121 nước ký kết [signature] Quy Chế Rome thiết lập một Toà Án Hình Sự Quốc Tế thường trực. Tuy nhiên, Quy Chế Rome chỉ có hiệu lực khi được 60 nước phê chuẩn [ratification]; do đó Toà Án vẫn chưa hình thành. Phải đến ngày 11/4/2002 Toà Án mới ra đời [và có hiệu lực từ 1/7/2002], sau khi được 10 nước phê chuẩn trong cùng một ngày, nâng số nước phê chuẩn Quy Chế Rome lên 66, vượt quá con số 60 quy định. [6]

Vào ngày 17/7/1998, kết thúc hội nghị Rome, ông Annan tuyên bố: “Tòa Án Hình Sự Quốc Tế thường trực đang hình thành nhằm cung cấp những gì từ lâu được xem là mắt xích bị thiếu trong hệ thống pháp lý quốc tế để xét xử những tội ác liên quan sâu đậm đối với nhân loại và những tội ác chiến tranh” và, vẫn theo ông Annan, “giấc mơ ấp ủ từ lâu về một Tòa Án Hình Sự Quốc Tế thường trực nay được thực hiện.”

-Trách nhiệm cá nhân
Điều 1, Điều 25 và Lời Mở Đầu Quy Chế Rome minh định:
[a] ICC có thẩm quyền xét xử các “cá nhân” vi phạm các “tội ác nghiêm trọng” quốc tế quan tâm, quy định trong Quy Chế Rome;
[b] ICC có quyền xét xử “bổ xung” đối với các Tòa Án Quốc Gia.
Tức là:
[a] Nếu quốc-gia là chủ thể đi kiện hay bị kiện trước Toà Án Quốc Tế La Hague [ICJ] ra đời từ 1945] thì cá nhân có quyền đi kiện hay bị kiện trước Toà Án Hình Sự Quốc Tế [ICC] [ra đời ngày 1/7/2002].
[b] ICC sẽ thụ lý nếu Tòa Án Quốc Gia liên hệ [bao che] không đem các “cá nhân” vi phạm các “tội ác nghiêm trọng” ra xét xử hay xét xử nhưng trừng phạt không đúng mức.

-Trách nhiệm hình sự
Các Điều khoản khác trong Quy Chế Rome quy định:
[a] Phán quyết của ICC có “tính cách cưỡng hành” [chứ không thể “không thi hành” như ICJ quy định được]
[b] Nguyên tắc “bất khả thời tiêu”: Điều 29 qui định nạn nhân không kiện được lúc này thì sau này kiện lúc nào cũng được, không bị “luật hạn chế thời hiệu” làm mất đi tố quyền.

-Tội ác nghiêm trọng
[a] Điều 5 minh định tổng quát các “tội ác nghiêm trọng” quốc tế quan tâm và trừng trị, gồm: Tội diệt chủng [Crimes of Genocide]; Tội ác chống nhân loại [Crimes against Humanity]; Tội ác chiến tranh [War Crimes]; Tội xâm lược [Crime of Aggression].
[b] Các Điều 6, 7, 8 giải thích và liệt kê các “tội ác nghiêm trọng” bị trừng phạt dài trên 6 trang giấy mà các “cá nhân” nạn nhân có thể kiện trước ICC.

-Thẩm quyền tài phán
Điều 13 qui định ICC có thẩm quyền tài phán theo 3 phương cách:
[a] Do quốc gia hội viên khởi tố;
[b] Do HĐBA yêu cầu; hay
[c] Do Công Tố Viên của Tòa Án tự tiến hành điều tra; tức: Công Tố Viên ICC có thể tự tiến hành điều tra và đưa ra ICC xét xử các tội ác nghiêm trọng do nạn nhân khởi tố.

Tạm Kết.- Trong phạm vi một bài báo và nhiều điều không tiện nêu ra ở đây người viết xin được kết luận bài viết như sau:

1. Rõ ràng là việc thiết lập một “Toà Án Hình Sự Quốc Tế “tạm thời” [“ad hoc”] để xét xử bọn tội phạm Việt-Cộng là một giải pháp khả thi mà HĐBA đã từng áp dụng ở Âu-châu, Phi-châu và gần đây là Á-châu với bọn Pol Pot ở Cambodia. Tội ác của bọn Milosovic, Mabuge hay Pol Pot không thể nào so sánh về số lượng và thời lượng với các tội ác của Việt-Cộng đối với đất nước và dân Việt trong gần một thế kỷ qua, kể từ khi Hồ Chí Minh bán đứng nhà cách mạng Phan Bội Châu cho Pháp.

2. Việc đem bọn tội phạm Việt-Cộng ra trước các “Toà Án Quốc Gia có thẩm quyền quốc tế” có phần “đơn giản” và “khả thi” hơn. Ngoài các vụ án tiêu biểu nêu trên, ngày 26/1/2010, Toà Phá Án Paris đã thừa nhận “thẩm quyền quốc tế” của Toà Án Pháp khi cho phép toà dưới thụ lý vụ vợ của ông Ung, cựu Chủ Tịch Quốc Hội Cambodia, kiện trước Toà Án Pháp về việc chồng bà bị tra tấn và mất tích ở Cambodia trong thời gian từ 1975 đến 1979 mà trước đó Toà Thượng Thẩm Paris từ chối thụ lý.

3. Về việc đem bọn tội phạm Việt-Cộng ra trước “Tòa Án Hình Sự Quốc Tế “thường trực” [ICC]? Việt-Cộng là 1 trong số 6 nước [trên tổng số 198 hội viên LHQ] chống việc thiết lập ICC vì biết chắc sẽ bị đem ra xét xử trước ICC về đủ thứ tội ác đối với đất nước và dân Việt. Ngoài ra, theo Điều 4 Quy Chế Rome thì “ICC có thẩm quyền trên lãnh thổ các nước hội viên và trên lãnh thổ nước không phải là hội viên với sự thỏa thuận của nước này.”

Tuy nhiên theo Điều 13 thì “Công Tố Viên của Tòa Án có thẩm quyền tự tiến hành điều tra và đưa ra ICC xét xử các tội ác nghiêm trọng do nạn nhân khởi tố.” Khi Mỹ đe dọa rút chữ ký ra khỏi Quy Chế Rome vì sợ rằng các quân nhân Mỹ có mặt khắp nơi trên thế sẽ bị đem ra ICC xét xử về hình sự, Barbara Crossette, bỉnh bút chuyên về luật pháp của tờ New York Times nhận xét: “Dù Bush có rút chữ ký của Mỹ khỏi Quy Chế Rome cũng thế thôi; sẽ không một nước nào được xem là ngoài thẩm quyền tài phán của ICC. Trên lý thuyết, người Mỹ, từ hàng viên chức cao cấp nhất trong chính quyền như Bộ Trưởng Quốc Phòng hay Ngoại Giao đến người lính Mỹ, đều có thể bị truy tố về hình sự trước ICC.” [7]

Thẩm quyền giải thích và áp dụng luật là của Toà Án. Do đó, về giải pháp này, nạn nhân nên nộp đơn khiếu tố với Công Tố Viên để ICC quyết định là hợp lý nhất.

Ls Nguyễn Thành, Coordinator “Justice & Peace for Paracel & Spratly Islands of Vietnam”

Chú thích:
[1] “ad hoc” [La-tinh,“for this purpose”,“for this occasion”] được dùng để chỉ tính cách “không thường trực”, “tạm thời”, cho một “mục đích” hay một “trường hợp” nào đó khi lập một Tòa Án Quốc Tế.
[2] “A former head of State charged with abuse of human rights can be brought to trial almost anywhere.”
[3] “An almost universal clamor today that those who commit crimes against hunanity must be persued to the ends of the world, whenever and wherever they can be found, and brought to justice.”
[4] Ls Phạm Thanh Dân là người đã soạn thảo nhiều tài liệu và do Gs Lương Thị Nga, Chủ Tịch Hội Phụ Nữ VN tại Pháp, trình bầy nhiều lần trước diễn đàn LHQ, trong các khóa họp về nhân quyền ở Geneva vào 2 năm 1994 và 1995. Nghiên cứu các tài liệu của Ls Dân, người viết nhận thấy hầu hết những điều ông liệt kê trong Tuyên Cáo tố cáo Việt-Cộng trước LHQ đều được ghi lại trong Điều 6 và 7 của Quy Chế Rome về các “tội ác diệt chủng” và “tội ác chống nhân loại.”
[5] Xin đừng nhầm lẫn ICC với ICJ [International Court of Justice], thường gọi là Toà Án Quốc Tế La Hague, do LHQ lập năm 1945, để phân xử tranh chấp giữa các nước hội viên LHQ.
Quy Chế của Toà này quy định: Một bên tranh tụng có quyền “không thi hành” phán quyết của ICJ, dù chính nước này tự ý nhờ ICJ phân xử. Vì thế, vai trò tài phán của ICJ chỉ là con số “0” và giới luật gia quốc tế cho rằng ICJ không phải là tòa án đúng với nghiã của nó mà chỉ là một “ủy ban trọng tài” trong đó hai bên tranh chấp có quyền không thi hành quyết định của trọng tài. Thế giới mất tin tưởng vào ICJ, nhất là từ khi xảy ra 2 vụ án sau đây, đều liên quan tới Mỹ.
-Vụ án 1: “U.S. v. Iran” (1980). Sau “cách mạng” 1979 ở Iran, bang giao Mỹ-Iran căng thẳng. Đầu 1980, Iran bắt nhân viên ngoại giao Mỹ ở Iran làm con tin. Mỹ kiện Iran trước ICJ [dù Mỹ không công nhận ICJ]. ICJ ra phán quyết buộc Iran thả con tin Mỹ, Iran từ chối không thi hành phán quyết của ICJ. Mỹ bó tay và sau đó phải tìm giải pháp bằng con đường thương thuyết.
-Vụ án 2: “Nicaragua v. U.S.” (1984). Năm 1984, Nicaragua kiện Mỹ trước ICJ đòi bồi thường thiệt hại vì CIA [Mỹ] đã yểm trợ vũ khí, tiền bạc, kích động các cuộc nổi loạn và tổ chức gài mìn ở các hải cảng của Nicaragua. ICJ ra phán quyết chấp thuận yêu cầu của Nicaragua và Mỹ không thi hành trước sự chỉ trích dữ dội của nhiều nước trên thế giới].
[6] Theo Justice Sans Frontières, 6 nước chống ICC là Trung Cộng, Ấn, Pakistan, Indonesia, Iraq và Việt Nam; 21 nước không có ý kiến và 12 nước không bỏ phiếu. Trung Cộng sợ sẽ bị kiện vì vấn đề Tây Tạng. Ấn Độ và Pakistan chống vì không thành công khi đòi ghi vào Quy Chế Rome “có vũ khí nguyên tử” là “tội ác nghiêm trọng.” Indonesia có vấn đề Đông Timor, Iraq có vấn đề người Kurk và Việt-Cộng thì lu bù vấn đề. Mỹ lúc đầu chống, sau nghe khuyến cáo của cựu TT J. Carter đã ký Quy Chế Rome vào cuối nhiệm kỳ của TT Clinton.
Theo Hiến Pháp Mỹ, các hiệp ước quan trọng do Tổng Thống [hay đại diện] ký với nước ngoài phải được Thượng Viện chấp thuận [với tỷ lệ 2/3] mới có giá trị. Đầu năm 2001, hành pháp Bush tuyên bố: “Nó (Quy Chế Rome) sẽ không bao giờ được đưa ra trước Thượng Viện để phê chuẩn” và phía lập pháp thì tìm mọi cách để ngăn chặn việc thiết lập ICC với lý do “bảo vệ quân nhân Mỹ gìn giữ hoà bình có mặt khắp thế giới.”
Hạ Viện [Cộng Hoà] Mỹ còn thông qua luật “American Service Members’ Protection Act” nhằm ngăn chặn việc Mỹ tham dự vào hoạt động của ICC, cản trở các nước phê chuẩn Quy Chế Rome và ủy quyền cho hành pháp được xử dụng các biện pháp cần thiết để can thiệp cho công dân Mỹ hay đồng minh bị giam giữ bởi ICC.
Thật ra, lý do “bênh vực các quân nhân Mỹ” hoàn toàn không có cơ sở. Vì Quy Chế Rome minh định rõ ràng ICC sẽ “không nhận xét xử khi Toà Án Quốc Gia liên hệ đang điều tra hoặc truy tố, trừ khi Toà Án Quốc Gia liên hệ không chịu điều tra hay truy tố các tội ác hay truy tố nhưng trừng phạt lấy lệ.”
[7] “Bush appears to be removing the signature of the US from the treaty creating it. Even so, no country is deemed to be outside the court’s jurisdiction. In theory, any American, from a high-ranking official like the Secretary of Defense or State to a soldier in the field, could be accused of a crime.” [War Crimes Tribunal Established, Barbara Crossette [NY Times], San Jose Mercury News, April 12, 2002]

Tài Liệu Tham Khảo:
-Rome Statute of the International Criminal Court [ICC], UN, Original: English and French.
-Ratify or Reject: Examining the US’ Opposition to the ICC, Matthew A. Barett, 2000.
-International Human Rights law challenges to the new ICC, Yale Journal of International Law, 2001.
-The American Political Dictionary, Plano and Greenberg, Ninth and Tenth Edition.
-Vụ án Pinochet làm rung chuyển luật pháp quốc tế, Nguyễn Văn Thành, VN nhật báo San Jose, 5/8/2000.

Advertisements
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

2 Responses to Ls. Nguyễn Thành – Đem bọn tội phạm Việt Cộng ra trước Toà Án Quốc Tế hay Toà Án các Quốc Gia

  1. Lê Bá Hùng says:

    Bài rất có giá trị và công phu.
    Đáng lưu để làm tài liệu tham khảo.
    LS Lê Bá Hùng

  2. Nguyễn Anh Dũng says:

    Mới đây tôi biết Ô. Liên Thành, Cựu CHT Cảnh sát QG Thừa Thiên đang nhờ một Tổ Hợp Luật Sư tại Canada đưa Đảng CS VN ra tòa án Quốc Tế vì vụ thảm sát hơn 5.000 đồng bào Huế vào Tết Mậu Thân. Tôi ước ao, Ô. Liên Thành, LS Nguyễn Thành và quý vị tại Úc cùng hợp lực để mau thành công.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s