Đỗ Ngọc Uyển – Dự luật HO cuả ông Nguyễn Ngọc Bích và bà Khúc Minh Thơ ???..

Lịch sử sẽ ghi nhận những hy sinh xương máu của họ và không ai đươc phép lợi dụng danh nghĩa anh hùng của họ cho những ý đồ bất chính.Đỗ Ngọc Uyển
Lời nói đầu: Ngày 23/9/2008, trên trang báo điện tử Ánh Dương có đăng bàì của ông Huy Phương phỏng vấn ông giáo sư Nguyễn Ngọc Bích: về hoạt động của Bà Khúc Minh Thơ và Hội Gia đình Tù Nhân Chính trị cho chương trình H.O.” Trên Người Việt Online, ngày 1/11/2008, ông Huy Phương đã viết bài “Tạp ghi Huy Phương: Chút ơn nghĩa cuối đời.” để trách cứ những người tù chính trị Việt Nam đã vô ơn đối với bà Khúc Minh Thơ. Vì nhận thấy có những điều trả lời của ông Nguyễn Ngọc Bích không đúng sự thật và lời trách cứ của ông Huy Phương là hồ đồ. Với tư cách một người lính và cựu tù chính trị, tôi viết bài này để trình bày những sự thật về sự kiện người tù chính trị Việt Nam, một sự kiện mang dấu ấn lịch sử.   
1- Trong bài phỏng vấn ông Nguyễn Ngọc Bích “về hoạt động của Bà Khúc Minh Thơ và Hội Gia đình Tù Nhân Chính trị Việt Nam cho chương trình H.O.” do ông Huy Phương thực hiện và được đăng lại trên trang báo điện tử Ánh Dương ngày 23/9/2008, có một đoạn ông Nguyễn Ngọc Bích đã nói nguyên văn như sau:
“…Vào ngày 30-4-1987 chúng tôi cùng bà Khúc Minh Thơ, tức là Nghị Hội với Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam tổ chức một buổi tiếp tân ở trên Quốc Hội. Buổi tiếp tân này vừa đánh dấu ngày 30/4 đau buồn của đất nước, vừa đưa vấn đề Việt Nam cho Quốc Hội họ nghe. Dịp may trong buổi tiếp tân đó là có sự hiện diện của hai vị Thượng Nghị Sĩ quan trọng là ông Bob Dole và Edward Kennedy… Buổi tiếp tân tại Quốc Hội hôm đó, chúng tôi (NNB) làm MC, khi chúng tôi giới thiệu hai vị TNS này thì chúng tôi cũng dùng một câu rất được lòng hai ông ấy… Khi giới thiệu, chúng tôi đã giới thiệu rằng hai vị đây là hai ứng cử viên tương lai có thể làm tổng thống…. cả hai vị đều hài lòng nên có hứa rằng là họ sẽ tiếp tay với chúng tôi làm chuyện can thiệp cho các tù nhân chính trị đang bị giam giữ.
            Họ giữ lời hứa, ngay ngày hôm sau 1/5/1987, họ bảo các phụ tá của họ ngồi lại với nhau viết ra cái dự luật sau này gọi là dự luật H.O. Chúng tôi đã đi theo từ giai đoạn đầu tiên, từ lúc thành dự luật, rồi nó đi qua nhiều chặng trong Quốc Hội. Chúng tôi thường xuyên lên Quốc Hội gõ cửa, không chỉ riêng hai ông Bob Dole hay Kennedy, mà còn nhiều vị Thượng Nghị Sĩ, Dân Biểu khác… ”
Ông giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đã nói không đúng sự thật. Cái mà ông Bích gọi là dự luật H.O ngày 1/5/1987 chỉ là cái Nghị Quyết số S.RES.205 Title: A resolution calling for the release of political prisoners by the government of Vietnam. (Một nghị quyết kêu gọi chính phủ cộng sản Việt Nam thả những người tù chính trị.) Nghị quyết này do 6 Thượng Nghị Sĩ đồng bảo trợ trong đó có hai Thượng Nghị Sĩ Bob Dole và Edward Kennedy.
Không chỉ riêng có Thượng Viện Hoa Kỳ ra nghị quyết kêu gọi cộng sản  thả tù chính trị, vào ngày 26/5/1987, tại Hạ Viện Hoa Kỳ, Dân Biểu Bob Dornan cùng 58 Dân Biểu khác cũng đã đồng bảo trợ một Nghị Quyết yêu cầu cộng sản VN thả những tù nhân chính trị ra. Nghị Quyết này mang số H.RES.212 Title: A resolution concerning the release of political prisoners by the government of Vietnam. (Một nghị quyết liên quan đến chính quyền cộng sản thả những người tù chính trị.)
Thực ra, không phải đợi cho đến ngày 1/5/1987 nhờ có ông Bích và bà Thơ vận động với hai ông Thượng Nghị Sĩ Bob Dole và Edward Kennedy nên mới có được cái gọi là Dự Luật H.O. tưởng tượng ra đời để can thiệp cho những người tù chính trị ra khỏi nhà tù cộng sản và đi tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa kỳ đã làm công việc này từ lâu, chậm nhất là từ năm 1982. Cao Uỷ Phủ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc và chính phủ Mỹ đã có những chuẩn bị để tiếp nhận tù chính trị Việt Nam từ tháng 7/1982. Sau đây là bản tin được đăng trên tờ New York Times số ra ngày July 1, 1982.
U.S. and U.N Said to Study Vietnam Resettlement Offer
Special to the New York Times
Published July 1, 1982
A State Department official said today that the Reagan administration was working
 with the United Nation High Commission for Refugees “to determine whether the Vietnamese are in fact prepared to release persons from re-education camps for resettlement abroad.” (Hôm nay, một viên chức Bộ Ngoại Giao nói rằng chính quyền Reagan đang làm việc với Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc “để xác định xem Viêt Nam có thực sự chuẩn bị thả những người bị giam cầm trong các trại cải tạo để họ đi định cư tại ngoại quốc hay không.”)
The official estimated that there were about 100,000 people in so-called re-education camps, many of them confined because of their past ties to the United States. (Viên chức này ước tính rằng có khoảng 100,000 người bị giam giữ trong những cái gọi là trại cải tạo, nhiều người trong số họ  đã bị giam cầm vì có những liên hệ chặt chẽ với Hoa Kỷ.)
Nhìn lại thật kỹ những chuyển động chuẩn bị cho việc thả những người tù chính trị để họ đi định cư tỵ nạn tại Mỹ thì thấy những diễn tiến như sau: Từ đầu thập niên 1980, cộng sản đã bắt đầu di chuyển những người tù từ Bắc vào Nam, những người mà cộng sản đã quyết tâm đưa đi đầy ải để giết chết trong các “trại cải tạo” dã man tại Miền Bắc. Tiếp theo đó, cộng sản cũng bắt đầu lần lượt thả tù ra. Cũng vào khoảng thời gian này, Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Thái Lan đã bắt đầu nhận đơn xin tỵ nan và cấp LOI (Letter of Introduction) cho những người tù đã được thả ra để chuẩn bị lập hồ sơ xuất cảnh. Kể từ năm 1984 trở đi – nghĩa là 3 năm trước khi có cái Dự Luật H.O. ngày 1/5/1987 tưởng tượng của ông Nguyễn Ngọc Bích và bà Khúc Minh Thơ ra đời –   việc gửi đơn sang toà Đại Sứ Mỹ tại Thái Lan để xin đi tỵ nạn là  công khai và chính thức; chẳng phải gửi “chui” hay giấu giếm gì cả, cứ việc gửi thẳng tại bưu điện Saigon. Vào tháng 10/1989, cộng sản ra thông báo và bắt đầu nhận đơn xin xuất cảnh và cấp phát sổ thông hành (passport) cho người cựu tù đi Hoa Kỳ theo đơn xin. Khi đó, người cựu tù đã có sẵn trong tay cái Giấy Giới Thiệu (LOI/Letter of Introduction) của Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Thái Lan cấp để góp vào hồ sơ xuất cảnh. Cũng vào thời gian đó, Mỹ lập văn phòng phỏng vấn tại Sàigòn.  Mỗi tháng Hoa Kỳ phỏng vấn và nhận hơn một ngàn gia đình cựu tù chính trị Việt Nam vào Mỹ liên tục trong hơn 4 năm cho tới ngày 3/2/1994, khi những người cựu tù cuối cùng và gia đình bước chân lên máy bay thì tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tuyên bố huỷ bỏ cấm vận cộng sản VN và chuẩn bị thiết lập bang giao. Tất cả mọi việc diễn tiến rất có lớp lang, gần như theo một lộ trình đã được thoả hiệp ngầm trước đó.
Như đã nói ở trên, kể từ năm 1984 trở đi, việc gửi đơn sang Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Thái Lan để xin đi tỵ nạn là công khai và chính thức; nhưng cũng có một số người tù chính trị khi được thả ra đã e ngại, hoặc vì lý do nào đó đã không gửi đơn qua bưu điện mà tìm cách gửi qua Hoa Kỳ nhờ bạn bè, người thân hay bà Khúc Minh Thơ chuyển tiếp đến toà Đại Sứ Mỹ tại Thái Lan. Đó là “công ơncủa bà Khúc Minh Thơ đối với một số anh em cựu tù nhân chính trị mà ông Nguyễn Thanh Ty đã coi đó là “bát cơm phiếu mẫu.”  
 Đúng là bà Khúc Minh Thơ và ông Nguyễn Ngọc Bích đã có công  đi vận đông vất vả từ Quốc Hội sang Bộ Ngoại Giao đến chính giới nên mới  có cái dự luật “H O.” tưởng tượng ngày 1/5/1987. Không ai phủ nhận công lao to lớn đó của hai vị này; nhưng khi tra cứu và tìm hiểu kỹ thì thấy rằng ông Bích và bà Thơ đã vất vả đi gõ những cánh cửa đã mở toang ra sẵn từ trước để mời quý vị vào dùng coca cola ướp lạnh, nghỉ mệt, chụp hình kỷ niệm để sau này trưng bày  và nhận những lời cảm ơn rất lịch sự kiểu Mỹ…; có nghĩa là chính phủ Hoa Kỳ đã đi tìm cách trả món nợ quốc gia đối với đồng minh trong cuôc chiến “closing out this nation’s debt to its Indochinese wartime allies” từ rất lâu, trước khi ông Nguyễn Ngọc Bích và bà Khúc Minh Thơ đến gõ cửa văn phòng họ.
Như đã trình bày ở trên, không có cái gọi là dự luật H.O. ngày 1-5-1987 nào cả, mà chỉ là cái Nghị Quyết số S.RES.205 yêu cầu cộng sản thả tù chính tri. Cái gọi là dự luật H.O. chỉ là một món hàng giả do ông Bích và bà Thơ vẽ ra để đánh tráo một sự kiện lịch sử.
 Viêc người tù chính trị ra đi muộn là do  cộng sản gây khó khăn kể từ năm 1982 như ông Funseth đã nói  trong cuộc phỏng vấn của phóng viên Nguyễn Khanh của RFA nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày 30/4/75. Ông Robert Funseth đã nói nguyên văn như sau: “…và ngay trong buổi đầu gặp gỡ với họ, (vào năm 1982) tôi được thông báo là trong số những người Hoa Kỳ muốn đón sang Mỹ định cư, thành phần tù nhân chính trị là diện khó nhất.”
Hoa kỳ là một quốc gia gồm những di dân và người tỵ nạn. Từ rất lâu, Hoa Kỳ đã có những đạo luật về di dân và tỵ nạn; nhưng sau ngày 30/4/1975, để đáp ứng với làn sóng hàng triệu người tỵ nạn Đông Dương, đặc biệt là người Việt Nam, Quốc Hội và Chính Phủ Hoa Kỳ đã ban hành 3 đạo luật về Đinh Cư và Tỵ Nan (Three Acts have facilitated the immigration and resettlement of Southeast Asian refugees) sau đây: 
Đạo luật thứ nhấtIndochina Migration and Refugee Act of 1975 –  University of California Irvine Southeast Asian Archive đã ghi lại trường hợp ban hành đạo luật này như sau:
“…In fact, one public opinion poll taken when Saigon fell in 1975 showed only 36% of the respondents in favor of Vietnamese immigration, fearing loss of job and increase public spending. However, President Gerald Ford and other public figures, including people who had been opposed to the war in Vietnam, strongly supported the refugees. Congress allocated resettlement aid and passed the 1975 Indochina Migration and Refugee Act, which allowed the refugees to enter the United States under a special migration and “parole” status…” (Thực vây, một cuộc thăm dò dân ý khi Saigon sụp đổ vào năm 1975 đã chỉ có 36% người được hỏi đã đồng ý nhận người di dân Việt Nam, vì họ sợ mất việc làm và tăng chi tiêu của công. Tuy nhiên, tổng thống Gerald Ford và những nhân vật  quan trong của Hoa Kỳ kể cả những người đã chống đối cuộc chiến Việt Nam cũng mạnh mẽ ủng hộ những người tỵ nạn. Quốc Hội đã phân phối ngân khoản tái định cư và thông qua Đạo Luật Đinh Cư và Tỵ Nạn Động Dương năm 1975, nó cho phép người ty nạn nhập vào Hoa Kỳ theo một quy chế nhập cư đặc biệt.)
Đạo luật thứ haiIndochina Migration and Refugee Assistance Act of May 23, 1975. This Act established a program of domestic resettlement assistance for refugees who fled from Cambodia and Vietnam. (Đạo Luât Trợ Giúp Di Dân và Tỵ Nạn ngày 23 tháng 5 năm 1975.  Đạo luật này thành lập một chương trình trong nội địa để trợ giúp cho người tỵ Nạn đến từ Cambodia và Việt Nam.)
Đạo luật thứ baThe Refugee Act of 1980 – This Act created The office of Refugee Resettlement, which administers programs and services for refugees within the U.S. Individual states play a central role in the resettlement process and are required to have plan for refugee assistance in order to receive federal funding… The Refugee Act of 1980 was passed to set up systems to deal with increasing number of refugees from Vietnam and other countries of the world. (Đạo Luật Tỵ Nạn năm 1980 – Đạo luật này thành lập Văn Phòng  Tái Định Cư Tỵ nạn để quản trị các chương trình và dịch vụ cho người tỵ nạn trong nội địa nước Mỹ. Các Tiểu Bang của Hoa Kỳ giữ vai trò trung tâm trong phương cách tái nhập cư và đòi hỏi phải có kế hoạch trợ giúp tỵ nan để được nhận ngân khoản trợ cấp từ Liên Bang…Đạo Luật Tỵ Nạn năm 1980 được thông qua để thiết lập một hệ thống nhằm đối phó với sự gia tăng số người tỵ nạn từ Việt Nam và các nước khác trên thế giới.)
Trên đây là 3 đạo luật chính của Hoa Kỳ áp dụng cho tất cả các trường hợp đến tỵ nạn tại Hoa Kỳ sau ngày 30/4/1975 kể cả những người cựu tù chính trị Việt Nam, và không có cái gọi là Dự Luật H.O do ông Nguyễn Ngọc Bích và bà Khúc Minh Thơ vận động để áp dụng riêng cho những người tù chính trị Việt Nam. Ngoài 3 đạo luật trên đây, vào năm 1987, Quốc Hội Hoa Kỳ còn thông qua đạo luật Amerasian coming  Home Act để đón nhận các trẻ em lai Việt Mỹ trở về nhà.
Người tù chính trị Việt Nam đi định cư tỵ nạn tại Mỹ là do Một Thoả Thuận (An Agreement) được ký kết giữa Hoa Kỳ và Việt cộng vào ngày 29/7/1987 tại Hà Nội. Cái bút mà ông Robert Funset dùng để ký cái thoả thuân đó với thứ trưởng Việt cộng Vũ Khoan đã được ông Funseth, vì lịch sự kiểu Mỹ, tặng cho bà Khúc Minh Thơ để trưng bày (display) và làm kỷ niệm vì bà Thơ và Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị đã nhận và chuyển giúp nhiền ngàn hồ sơ xin tỵ nạn chính trị của các cựu tù nhân tới Toà Đại Sứ Mỹ tại Thái Lan
Sự kiện tù chính trị Việt Nam là một sự kiện mang Dấu Ấn Lịch Sử. Do đó, mọi việc phải được trình bày một cách nghiêm túc và trung thực. Chúng tôi ghi nhận bà Khúc Minh Thơ đã có những quan tâm đặc biệt đến những người tù chính trị trong đó có Đại Tá Nguyễn Bê, phu quân của bà, và làm trung gian chuyển tiếp hồ sơ xuất cảnh – có thể lên đến nhiều ngàn – của một số anh em cựu tù nhân tới Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Thái Lan. Và chỉ có vậy mà thôi. Ơn nghĩa phải minh bạch và sòng phẳng.
Trong một đoạn khác của bài phỏng vấn, ông Nguyễn Ngọc Bích có nói nguyên văn như sau: “…nếu không có cái hội của bà Khúc Minh Thơ thì chương trình H.O. không biết ở cái quy mô nào, có thể nó cũng xảy ra, nhưngquy mô rất nhỏ …” 
 Đọc câu này thì phải hiểu rằng chính là nhờ bà Khúc Minh Thơ và cả ông Nguyễn Ngọc Bích nên mới có chương trình H.O. quy mô lớn như thế và nếu không có bà Thơ và ông Bích thì không có chương trình H.O. và nếu có thì nó cũng sẽ ở quy mô rất nhỏ. Đây chỉ là lời suy đoán mơ hồ, không dẫn chứng cụ thể. Một giáo sư đại học Mỹ không làm chuyện suy đoán như thế. 
Chúng tôi tin chắc rằng dù bà Khúc Minh Thơ và ông Nguyễn Ngọc Bích có vất vả đi vận động hay không thì việc những người cựu tù chính trị ra khỏi nhà tù cộng sản và sang cư ngụ tại Mỹ vẫn diễn ra theo đúng quy mô như nó đã diễn ra, bởi vì việc này phù hợp với quyền lợi lâu dài của Mỹ. Sớm hay muộn, Mỹ phải trở lại Việt Nam, một vị trí chiến lược, để bảo vệ quyền lợi chính trị và kinh tế lâu dài của Mỹ trong vùng Đông Nam Á. Trong tập Hồi Ức và Suy Tư của Trần Quang Cơ, thứ Trưởng Ngoai Giao cộng sản, đã viết đại khái rằng ngay trong tháng 5-1975, hai cơ quan ngoại giao của Việt cộng và Hoa Kỳ tại Paris đã trao đổi thư từ bàn về việc thiết lập bang giao giữa hai bên, nhưng  không thực hiện được ngay lúc đó và phải đợi cho tới hơn 20 năm sau mới thiết lập được bang giao bởi vì Việt Cộng “đang thừa thắng xông lên,” đòi Mỹ phải bồi thường 3 tỷ mỹ kim. Và như tôi đã nói ở trên, khi những người cựu tù cuối cùng bước chân lên máy bay để rời khỏi Việt Nam thì ngay lập tức vào ngày 3-2-1994,  tổng thống Bill Clinton  đã tuyên bố huỷ bỏ cấm vận cho cộng sản và chuẩn bị thiết lập bang giao giữa hai bên. Cũng nên nhớ rằng ngay từ năm 1977, tổng thống Gerald Ford đã không phủ quyết mà còn ngầm ủng hộ để cho cộng sản Việt Nam ra nhập làm thành viên Liên Hiệp Quốc; nghĩa là ngay sau khi tháo chạy khỏi Việt Nam, Mỹ đã chuẩn bị trở lại Việt Nam, một vị trí chiến lược để bảo vệ quyền lợi lâu dài của Mỹ tai vùng Đông Nam Á. Mỹ đã chạy khỏi Việt Nam, nhưng Mỹ vẫn không thể thoát ra khỏi Việt Nam. Do đó, vấn đề tù chính trị Việt Nam là vấn đề nằm trong tâm can cuả Mỹ. Dù có là đệ tử trung kiên của chủ nghĩa thực dụng, người Mỹ cũng không thể vác cái mặt mo đến Hà Nội lập Toà Đại Sứ khi những người từng là đồng minh thân thiết của họ còn nằm trong nhà tù cộng sản.
Ngoài yếu tố thực dụng trên đây, còn một yếu tố tâm lý cũng quan trọng. Đó là tâm thức tập thể của Hoa Kỳ đã nhận thấy rằng những người làm chính sách cao cấp của Hoa Kỳ như Kissinger và Nixon đã phản bội một cách vô đạo đức những cam kết của Hoa Kỳ đối với đồng minh VNCH. Đây là một lỗ đen trong lịch sử Hoa Kỳ (a black hole in the American history) không thể tẩy xoá được. Không một người Mỹ nào có lương tri và tự trọng có thể hãnh diện mình là người Mỹ trong ngày 30-4-1975. Lương tâm tập thể của Hoa Kỳ đã bị day dứt. Do đó, ngay trong tháng 5/1975, những khuôn mặt quan trọng của Mỹ đã từng chống đối cuộc chiến Việt Nam cũng đã ủng hộ manh mẽ người tỵ nạn Việt Nam. Quốc Hội và Chính phủ Hoa Kỳ đã nhanh chóng ban hành Đạo Luât Định Cư và Tỵ Nạn Đông Dương (The 1975 Indochina Migration and Refugee Act) cho phép người tỵ nạn Việt Nam vào Hoa Kỳ theo một quy chế nhập cư đặc biệt. Do đó việc đưa những người tù chính tri VN sang định cư tại Mỹ là để trả một món nợ lương tâm và đạo đức của Hoa Kỳ đối với những người đã một thời là đồng minh sát cánh chiến đấu trên cùng một chiến trường. Trả xong món nợ đạo đức và lương tâm này, người Mỹ mới có được những giấc ngủ yên hàng đêm. “This has helped us American sleep better at night.”
Mục đích trước hết và trên hết của cuộc phỏng vấn do ông Huy Phương thực hiện là
để cầu cứu ông giáo sư Nguyễn Ngọc Bích biện hộ cái tính chính danh cho bà Khúc Minh Thơ – đã bị Tổng Hôi Cựu Tù Nhân Chính Tri Việt Nam chính thức phủ nhận bằng một tuyên cáo – để bà này đứng ra tổ chức cái gọi là: “Ngày Tù Nhân Chính Trị Việt Nam.” Ông giáo sư càng cố gắng biện hộ thì càng lòi ra những điều không đúng sự thật. như đã trình bày ở trên.
2- Trong bài “Tạp ghi Huy Phương: Chút ơn nghĩa cuối đời,”  đăng trên Người Việt Online, ngày 1//11/008,  có một đoạn ông Huy Phương đã viết nguyên văn như sau:
“…Gần đây, luận về một sự giúp đỡ trong quá khứ cho mgười tù chính trị, người ta đã phân
tích, đem chẻ sợi tóc ra làm tư để phủ nhận công ơn những ai đã giúp đỡ mình, dù nhiều, dù ít, bằng cách này, hay bằng cách khác. Để khỏi mang ơn hay tránh mặc cảm là kẻ vô ơn, người ta phải tự lừa dối với cả chính mình bằng cách vẽ lại hình ảnh người ơn một cách xấu xa đến mức tàn tệ. Khi xúc động với lòng biết ơn người ta vẽ nên hình ảnh bà Tiên nhiệm mầu chan chứa lòng bác ái, khi bất bình người ta sẵn sàng tô vẽ hình ảnh ấy thành một mụ phù thuỷ quái ác. Thật ra, chúng ta không phải nhất thiết làm những chuyện như vậy, vì vào những ngày xa xưa ấy, những người bỏ công sức, bằng cách này hay cách khác để tìm cách cứu vớt người lâm nạn, không có ai mong mỏi sẽ có một ngày nào đó được đền đáp lại, dù chỉ là một câu cám ơn đầu lưỡi.
            Trong toàn bài viết cũng như trong  đoạn văn trên đây, ông Huy Phương đã vận dụng một thứ  tình cảm lê thê để trách móc một cách hồ đồ và gọi những người tù chính trị là kẻ vô ơn đối với bà Khúc Minh Thơ, đại ân nhân của ông Huy Phương. Bằng một giọng văn nỉ non, bi thảm, ông Huy Phương đã tô vẽ hình ảnh những ngượi tù  chính trị thành những hình nhân đau khổ, tuyệt vọng, mất hết niềm tin, chỉ còn biết ngồi chờ  bà Tiên nhiệm mầu chan chứa lòng bác ái của ông Huy Phương đến cứu. Ngòi bút của ông Huy Phương đã phản ánh ngược lại bản chất hiên ngang của các chiến binh anh hùng của QLVNCH mà tôi đã chứng kiến qua 9 trại tù cộng sản từ Nam ra Bắc. Chính bọn cai tù ác ôn cộng sản cũng phải thú nhận rằng: “bọn nguỵ quân cứng đầu này không thể cải tạo được. Bọn tù binh Pháp, tù binh Mỹ còn biệt sợ chứ bọn lính nguỵ này không biết sợ là gì.” Chính vì cái bản chất hiên ngang, không chịu khuất phục mà người chiến binh sa cơ đã bị lũ cai tù vô nhân tính cộng sản trả thù một cách rất dã man và đê tiện. Đã có biết bao nhiêu anh em đã chết dưới đòn thù của cộng sản và trước khi chết anh em vẫn giữ được hào khí anh hùng của người chiến binh QLVNCH.
Ở trên, tôi đã trình bày một cách minh bạch và sòng phẳng về “công ơn” của bà Thơ trong việc chuyển giúp nhiều ngàn hồ sơ xin xuất cảnh cho một số anh em cựu tù chính trị; cũng như tôi đã chứng mình rằng cái Dự Luật H.O. chỉ là sản phẩm do ông Bích và bà Thơ vẽ ra; và tôi cũng chứng mình bằng những văn bản và các sự kiện cụ thể rằng việc vận động để người tù chính trị ra khỏi nhà tù và đi định cư tại Mỹ là do chính phủ Mỹ chủ động từ đầu đến cưối để trả một món nợ quốc gia (this nation’s debt) đối  với đồng minh trong cuộc chiến (to its Indochina wartime allies.) Bà Khúc Minh Thơ không có công đầu trong vụ này, tức là không phải vì có bà Thơ hô hoán: “Có người rơi xuống giếng, nên người Mỹ mới đem thang, đem dây tới cứu như ông Huy Phương đã so sánh một cách ngớ ngẩn và gọi những người tù chính trị là kẻ vô ơn một cách hàm hồ. Người Mỹ đã tìm cách trả món nợ quốc gia của họ (a nation’s debt” chậm nhất là từ năm 1982, nghĩa là từ rất lâu trước khi bà Thơ hô hoán: Có người rơi xuống giếng.” bằng cái dự luật H.O. tưởng tượng ngày 1/5/1987.  Bà Thơ đã đến sau, chạy chung quanh cái giếng để hô hoán và cổ võ trong khi người ta đã bắt tay vào việc và đang cứu.nạn. Dù sao thì cũng phải cám ơn bà Thơ vì những lời hô hoán này.
            Bà Khúc Minh Thơ hiện là Sáng Lập Viên và Thành Viên Hội Đồng Tư Vấn của “Hội Bảo Tồn Lịch Sử & Văn Hoá Người Mỹ Gốc Việt” mà chủ tịch là bà Nancy Bùi, người đang có cơ sở làm ăn với cộng sản tại Việt Nam và phó chủ tịch là luật sư Trần Mộng Vinh, ông này đã ca tụng bọn lính cộng sản, quân đánh thuê cho Đệ Tam Quốc Tế, là ái quốc và có những lời lẽ súc phạm người lính VNCH. Với chức vụ quan trọng của môt tổ chức gồm những người hai mang như trên và thường đi về Việt Nam và đã được cộng sản cho mua nhà tại Vũng Tàu, chúng tôi có quyền nghi ngờ lập trường chính trị của bà Khúc Minh Thơ.
Tôi đã đọc được trên diễn đàn Internet một câu nói được coi là của bà Khúc Minh Thơ, xin ghi lại nguyên văn như sau: “Tôi đem các anh qua đây, mà các anh quậy phá quá, biểu tình tranh đấu tùm lum.” Đây là câu nói xúc phạm đến danh dự người tù chính trị và người lính Việt Nam Cộng Hoà mà cộng sản rất thích nghe. Nếu đúng là bà Thơ đã nói câu này, bà phải có một lời xin lỗi anh em cựu tù chính trị và người lính VNCH nếu bà còn mang danh nghĩa người Việt quốc gia chống cộng.
 Chúng tôi phải cân nhắc cẩn thận những lời cám ơn  dù là lời cám ơn đầu lưỡi như ông Huy Phương nói, bởi vì đây là vấn đề Danh Dự và Tự Trọng.  Không thể vì không nhịn nổi một cơn thèm khát nhỏ – dù là ở hoàn cảnh đói khát trong nhà tù cộng sản – để đưa tay ra nhận một cái kẹo to bằng đầu ngón tay út để rồi phải mang ơn suốt đời như ông Huy Phương, và coi “người ơn” đã cho mình cái kẹo là “bà Tiên nhiệm mầu chan chứa lòng bác ái.” Dù bật cứ trong hoàn cảnh nào, người lính có danh dự và tự trọng không làm chuyện đó.
Sự kiện tù chính trị Việt Nam là một sự kiện mang dấu ấn lịch sử, phải được trình bày một cách nghiêm chỉnh và trung thực. Mọi chuyện, kể cả ơn nghĩa, phải minh bạch và sòng phẳng. Đánh tráo một sự kiện lịch sử là có tội đối với lịch sử.  Những người lính VNCH  đã hy sinh, đã chiến đấu và cầm súng chiến đấu đến phút cuối cùng trong ngày 30-4-1975 và sa cơ rơi vào tay địch trong trận cuồng phong của lịch sử là những anh hùng đã bảo vệ quê hương thân yêu Miền Nam suốt 20 năm. Không ai lấy thành bại để luận anh hùng. Lịch sử sẽ ghi nhận những hy sinh xương máu của họ và không ai đươc phép lợi dụng danh nghĩa anh hùng của họ cho những ý đồ bất chính.
Đỗ Ngọc Uyển
Morgan Hill, California
Ngày 9 tháng 11 năm 2008
Advertisements
This entry was posted in TL về bà Khúc Minh Thơ và Vụ HO. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s