Nguyễn Đạt Thịnh – Cả nhà chống Nhà Nước

Đất của ông!
(by BaBui)

Hôm thứ Sáu 21 tháng Mười tòa án tỉnh Đồng Nai xử ông Nguyễn Ngọc Cường, 56 tuổi, 7 năm tù giam, con trai ông, cậu Nguyễn Ngọc Tường Thi, và con dâu ông, cô Phạm thị Bích Chi, 2 năm tù giam và 1 năm sáu tháng tù treo vì rải truyền đơn chống chính phủ hồi tháng Ba.
Cáo trạng của tòa cho hay từ tháng Mười năm ngoái, ông Nguyễn Ngọc Cường đã tham gia một diễn đàn mạng có tên là ‘Việt Nam và những vấn đề hôm nay’ dưới bút hiệu mikephat, viết những lập luận chỉ trích chính phủ không bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải.
Ông Cường bị ép cung khai là nhận 1,500 Mỹ kim của hai Việt Kiều “phản động ở nước ngoài”
Hồ Ngọc Phước và Nguyễn Trần.
Rải truyền đơn
Theo cáo trạng, ông đã dùng số tiền này để “thưởng cho những người tham gia diễn đàn chống Nhà nước, cung cấp tiền cho những người đi khiếu kiện và phỏng vấn họ theo nội dung nói xấu chế độ, nói xấu Nhà nước rồi đưa thông tin lên mạng”.
Ngoài ra, ông còn bị buộc tội đã in ấn và rải truyền đơn chống chính quyền. Số truyền đơn được in ra là 3.000 lá, nhưng chỉ rải được 1.200 lá vào ban đêm 28/03/2011 ông và con trai Nguyễn Ngọc Tường Thi đã bị bắt giữ.
Tội danh Tuyên truyền chống Nhà nước XHCN theo Điều 88 trong một thời gian dài đã được chính quyền sử dụng để xét xử nhiều nhân vật bất đồng chính kiến. Mới nhất là vụ xử ông Lư Văn Bảy ở Kiên Giang 4 năm tù hồi tháng Tám.
Trong các vụ xét xử theo Điều 88, trường hợp gây chú ý nhất có lẽ là vụ xử tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ hồi tháng Tư với mức án 7 năm tù giam.
Động cơ khiến mọi người chống Nhà Nước là thái độ thần phục của chính phủ đối với chính sách nhập nhằng của Trung Quốc về ranh giới Biển Đông.
Nhập nhằng là không dứt khoát, trắng không ra trắng, mà đen cũng chẳng ra đen; và nhập nhằng đang là chính sách Biển Đông của Trung Quốc: họ vẽ ra đường ranh giới chủ quyền trên Biển Đông thường được gọi là đường lưỡi bò, bao trùm một vùng biển rất lớn. Nếu con đường này được thế giới công nhận thì 80% Biển Đông là của Trung Quốc. Tham vọng của người Tàu lúc nào cũng quá đáng; từ thời thượng cổ, lịch sử Trung Quốc chỉ là một chuỗi dài nối tiếp từ cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo này qua cuộc chiến tranh sắt máu khác để gồm thâu lục quốc.
Nhưng cho đến giờ này không một nước nào công nhận đòi hỏi quái dị của họ, và trong cuộc hội thảo về Biển Đông tại Manila hôm thứ Hai 17 tháng Mười, các nước ven Biển Đông đòi đem vấn đề ra phân xử trước tòa án quốc tế.
Giáo sư Trần Sỹ Cầu, đại diện Trung Quốc trong cuộc hội thảo, nói Công Ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) “không hề là căn bản để giới hạn đòi hỏi lãnh hải của một nước”. Nói cách khác, luật là luật, sức mạnh vẫn đủ sức xé luật để Trung Quốc tự ấn định lãnh hải của mình; ông tái khẳng định Trường Sa và Hoàng Sa là của Trung Quốc.
Nguyên là một viên chức ngoại giao, ông Cầu “đổi nghề” sang làm giáo sư đại học tại Bắc Kinh, và tham dự nhiều cuộc hội thảo về Biển Đông với tư cách một học giả. Lập luận ông Cầu phát biểu tại cuộc hội thảo Manila dập khuôn với lập trường chính thức của Bắc Kinh.
Ông Cầu nói: “UNCLOS, không thể thay đổi vị thế pháp lý không tranh cãi của Trung Quốc trong việc có chủ quyền ở Nam Sa”.
“Từ rất lâu – cả hơn một ngàn năm trước thập niên 1970 – chẳng hề có cái gọi là tranh chấp chủ quyền vùng Nam Sa. Không ai nghi ngờ gì về sự thật là Nam Sa, cùng Tây Sa [Hoàng Sa], Đông Sa, Trung Sa là sở hữu của Trung Quốc”.
‘Trước kia, trong suốt chiều dài lịch sử, không nước nào quanh Nam Hải (Biển Đông) thách thức chủ quyền của Trung Quốc trên hải đảo Nam Sa và các vùng nước lân cận”.
“Chỉ bắt đầu từ thập niên 1970, khi dự trữ dầu hỏa và khí đốt được phát hiện ở Nam Hải, một số nước bắt đầu chiếm một phần các đảo và rặng san hô của Nam Sa và đòi chủ quyền, và do đó biến Nam Sa của Trung Quốc trở thành vùng tranh chấp”.
Đại diện Việt Nam mà ông Trần Trường Thủy không hỏi ông Cầu xem “Trung Quốc có chiếm 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng cách tấn công hai hải đảo này đang do binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa và Việt Nam cộng sản trấn đóng không?”
Hải pháo Trung Quốc đã giết hạm trưởng Ngụy Văn Thà và 16 thủy thủ Việt Nam ngày 20 tháng Giêng 1974 trong trận hải chiến Hoàng Sa, và giết nhiều thủy thủ Việt Nam cộng sản ngày 14 tháng Ba 1988 khi họ tấn công Trường Sa.
Người Hoa không hề đón nhận hai quần đảo này từ tay ông cha họ trao lại như những di sản, mà ngược lại họ chỉ chiếm hai quần đảo này bằng hải pháo từ năm 1974.
Trung Quốc còn có thái độ nhập nhằng trong việc phòng thủ hay không phòng thủ vùng biển họ nhận là của họ khi chiến hạm Ấn Độ xâm phạm vùng lãnh hải lưỡi bò; và họ cũng ỡm ờ trong thái độ lưỡng lự chấp nhận hay không chấp nhận khi Nhà Nước Việt Cộng ký khế ước cho Ấn khai thác hai khu giếng dầu.
Họ có 2 cách bảo vệ cái lưỡi bò của họ: cách thứ nhất, đối với Việt Nam, họ bắn giết, bắt giam những ngư phủ Việt Nam ra Biển Đông đánh bắt cá trong hải phận Việt Nam; và cách thứ nhì đối với Ấn: khi hạm trưởng chiếc tầu đổ bộ Airavat của Ấn nói là ông ta bị cảnh cáo đang vi phạm lãnh hải Trung Quốc thì phát ngôn viên Khương Du đính chánh là không hề có người Trung Quốc nào cảnh cáo tầu chiến Ấn.
Tiến sĩ Trần Trường Thủy nhận xét về thái độ của Trung Quốc: “Các bước đi của Trung Quốc mang tính thử và đẩy. Họ đẩy mạnh và xem phản ứng các nước thế nào. Nếu thuận thì đẩy tiếp, nếu bị phản ứng thì điều chỉnh. Sau Diễn đàn An ninh khu vực (ARF) 17, khi Ngoại trưởng Mỹ Clinton can thiệp vào vấn đề Biển Đông, Trung Quốc phản ứng mạnh một thời gian nhưng không phản ứng với Mỹ, và sau đó cũng điều chỉnh lại cho mềm mỏng hơn.
Ông Thủy không nói thêm là Trung Quốc đã đẩy Việt Nam nhiều lần, và mỗi lần bị đẩy, Việt Nam lại ngoan ngoãn lùi thêm một bước. Trung Quốc cũng ngừng nghỉ một khoảng thời gian ngắn cho người Việt Nam nuốt vào những uất hận của họ, sau đó Trung Quốc điều chỉnh lại và đẩy mạnh hơn.
Trong quốc nội một số khá lớn người trí thức Việt Nam có phương tiện truyền thông điện tử để theo dõi tin tức quốc tế, do đó họ biết rất rõ thái độ ươn hèn của giới lãnh đạo nhà nước Việt Cộng.
Nhà nước Việt Cộng cũng biết là người Việt Nam không nể trọng họ; họ còn biết, mặc dù không nể trọng nhưng người Việt Nam không có phương tiện lật đổ họ; giống như họ không nể trọng Trung Quốc, nhưng vẫn phải tuân lệnh Trung Quốc.
Họ không muốn ngả theo Mỹ, vì theo Mỹ là mất đảng, và có thể mất cả tính mạng trong một cuộc nổi dậy của người Việt Nam. Ngồi trên lưng cọp, họ biết cọp sẽ xé xác họ nếu họ tụt xuống. Họ đành cứ ngồi liều đó cho đến lúc bị hất xuống.
Lúc đó là lúc không chỉ “cả nhà chống Nhà Nước” mà cả nước chống nhà nước.
Nguyễn Đạt Thịnh
Advertisements
This entry was posted in Bình Luận. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s