Thông Báo Blog Chúng Tôi Muốn Tự Do số 2

Blog CHÚNG TÔI MUỐN TỰ DO mới tại địa chỉ dưới đây:

http://chungtoimuontudo2.wordpress.com/

Hoàng Ngọc An

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Giới Thiệu Blog


Blog ChúngTôi MuốnTự Do được đìêu hành bởi một nhóm người ở Hoa Kỳ, yêu tự do, muốn tự do cho quê hương Việt Nam . Chúng tôi cố gắng chọn lọc để lưu trữ tại đây những bài xã luận đứng đắn, những hội luận hữu ích, những văn thơ góp phần cho công cuộc đấu tranh chung.

Uớc mong Blog ChúngTôi Muốn Tự Do sẽ là người bạn đồng hành cùng tất cả mọi người yêu quê hương, đang đấu tranh cho một Việt Nam ,Tự Do- Dân Chủ-Nhân Quyền, không Cộng sản

Đại Diện

Hoàng Ngọc An

Xin mời viếng thăm blog : www.hoanglanchi.com

 

 

Posted in Uncategorized | 1 Comment

Tài Liệu Vụ báo Người Việt Cali

This gallery contains 2 photos.

Tài Liệu Vụ báo Người Việt Cali Diễn Tiến 1-Ngày 8/7/2012,Vũ Quý Hạo Nhiên, phụ tá Chủ Bút. VQHN là con rể Lê Đình Điểu, chồng của Ysa đăng bài của Sơn Hào. Ysa với hội Vaala đã từng bị … Continue reading

Gallery | Tagged , | 8 Comments

Tài liệu với đầy đủ chứng cớ audio về vụ Tượng Đài ở DFW

Tài Liệu về Vụ Tượng Đài DFW Thưa quý vị Sau gần 2 tháng quan sát chuyện xảy ra ở Dallas , chúng tôi tóm tắt và đưa tài liệu để lưu trữ ở đây. Mục đích để những vị … Continue reading

Gallery | Leave a comment

Vũ Linh-TT Obama Gặp Rắc Rối?

TT Obama Gặp Rắc Rối
Vũ Linh

…chuyện cả nước biết mà tổng thống không biết là điều vô lý…

Ngày 30 tháng 4 vừa qua, TT Obama tổ chức một cuộc họp báo nhân dịp 100 ngày nhậm chức nhiệm kỳ hai, một điều không bình thường lắm khi ông là một trong những tổng thống tân thời ít họp báo nhất.

Lý do tổng thống phải họp báo là trong thời gian qua, từ ngày tái đắc cử đến nay, truyền thông, kể cả truyền thông dòng chính phe ta, đã nhiều lần lên tiếng thắc mắc hình như TT Obama đã trở thành “vịt què” (lame duck) quá sớm. Trong ngôn ngữ chính trị Mỹ, “vịt què” là cụm từ không lịch sự lắm, dành cho các chính khách gần ngày mãn nhiệm, ngồi không ngáp ngáp chờ ngày rời chức vụ. TT Obama muốn họp báo để trấn an dư luận.

Nhưng TT Obama dường như đã tính sai khi tổ chức họp báo.

Các nhà báo đã biểu lộ sự bực mình ngay trong cuộc họp báo. Nhà báo Jonathan Karl của đài truyền hình ABC hỏi thẳng thừng có phải tổng thống đã hết “xí-hoắch” (juice), không thúc đẩy được các chương trình của mình nữa không. Anh ta liệt kê ra những chuyện như TT Obama thất bại khi Thượng Viện không thông qua được dự luật kiểm soát vũ khí với 60 phiếu chống trong khi khối Cộng Hoà chỉ có 45 thượng nghị sĩ, tức là ít ra 15 nghị sĩ Dân Chủ đã xé rào, cũng không ngăn cản được cái “sequester” tự động cắt giảm ngân sách, và chuyện 92 dân biểu Dân Chủ nhẩy rào bỏ phiếu cùng khối Cộng Hòa về luật an ninh trên mạng (cybersecurity) bất chấp việc TT Obama đe dọa sẽ phủ quyết, trong khi các nhà báo khác chất vấn về các chuyện khủng bố tấn công tại Boston, Guantanmo vẫn chưa đóng cửa được bốn năm sau khi TT Obama ban hành sắc lệnh đóng cửa, vụ khủng bố tấn công và giết chết Đại Sứ Mỹ tại Benghazi vẫn còn nhiều câu hỏi, Syria sử dụng vũ khí hoá học, và khó khăn thực hành Obamacare, tác phẩm để đời của TT Obama, bị một thượng nghị sĩ Dân Chủ gọi là xe lửa đang lao khỏi đường rầy.

TT Obama trả lời anh Karl “nếu anh nói như vậy thì chắc tôi dọn đồ đạc về nhà cho xong”. Ông cũng nửa đừa nửa thật, nhắc lại câu nói của văn hào Mark Twain “những tin đồn về chuyện tôi đã chết dường như hơi quá sớm”. Trong bài “Một Tổng Thống Đứng Ngoài Lề” đăng trên Washington Post, nhà báo Dana Milbank viết “đây là tổng thống đầu tiên đã cần phải nhắc chúng ta là ông còn sống”.

Trả lời các câu hỏi khác, ý chung của TT Obama là cái gì cũng quá khó. Ông sử dụng danh từ “hard” hầu như cho tất cả mọi vấn đề, từ vụ Boston (hard stuff) đến Guantanamo (hard case), rồi luôn cho cả những chuyện Obamacare (harder), Syria (hard problem), v.v… Đấng Tiên Tri vạn năng của những ngày tranh cử năm 2008 đã về trời từ lâu rồi. Bây giờ là anh tổ chức cộng đồng không kinh nghiệm mặc dù đã làm tổng thống hơn bốn năm, thấy chuyện gì cũng quá khó, không có giải pháp.

Nhưng ông chuyên gia đổ thừa vẫn còn đó. Theo ông, tất cả đều do đối lập Cộng Hòa vô trách nhiệm, không hợp tác hay chống đối. TT Obama than vãn ông không có quyền ép đối lập “làm chuyện đúng” (behave and do the right thing). Làm như thể phải làm theo ý ông thì mới là có tinh thần trách nhiệm, biết “làm chuyện đúng”. TT Obama có vẻ như không hiểu được truyền thống chống phá của đối lập trong thể chế chính trị Mỹ, đã có từ ngày khai quốc. Chỉ cần nhìn vào cách truyền thông cấp tiến và đảng Dân Chủ đánh TT Bush ngay cả cho đến bây giờ thì sẽ thấy chuyện Cộng Hòa chống Obama bây giờ chẳng thấm vào đâu. Có lẽ TT Obama quá quen thuộc với chuyện truyền thông tâng bốc, thổi lên mây nên đã kỳ vọng đối lập Cộng Hòa cũng sẽ làm như vậy. Ông có vẻ như mơ mộng về một thể chế trong đó quốc hội chỉ để gọi dạ bảo vâng, và đối lập chỉ được quyền ca tụng khối cầm quyền.

Trả lời câu hỏi của một nhà báo Nam Mỹ về vấn đề di dân bất hợp pháp đang dậm chân tại chỗ, TT Obama nói ông rất cảm phục những cố gắng của nhóm “Bát Nhân Bang” (Gang of Eight), gồm tám thượng nghị sĩ lưỡng đảng đang cố đưa ra một dự luật lưỡng đảng giải quyết vấn nạn này. Chỉ khiến một nhà báo phe ta chán ngán viết bài đặt câu hỏi như vậy tổng thống chỉ là người bàng quan ngồi nhìn các thượng nghị sĩ làm việc thôi hay sao? Vai trò lãnh đạo của tổng thống đâu rồi?

Sau cuộc họp báo, dư luận truyền thông lại càng thắc mắc nhiều hơn nữa. Các tiếng nói đối lập chỉ trích đã đành, nhưng ngay cả các nhà báo phe ta cũng lên tiếng, mà lại lên tiếng mạnh nhất, có lẽ vì thất vọng khi thấy tổng thống không tích cực thúc đẩy các chương trình cấp tiến như họ mong muốn.

Nhà báo cấp tiến nặng Maureen Down viết trên New York Times khẳng định TT Obama cư xử đúng như vịt què thật. Bà bác bỏ tất cả mọi câu trả lời của TT Obama, coi như TT Obama đã núp sau một thế thủ yếu ớt, chống đỡ èo uột, chẳng có tính thuyết phục được ai, câu giờ chờ ngày về hưu chứ không tích cực thúc đẩy các chương trình cấp tiến mà giới truyền thông còn ước mơ.

Báo chí cũng không quên nhắc lại TT Obama trong bài diễn văn Báo Cáo Tình Trạng Liên Bang hồi tháng Hai vừa qua, đã đề nghị hai chuyện lớn: tăng lương tối thiểu, và cho các trẻ em mẫu giáo học miễn phí. Ba tháng sau, vẫn chưa nghe ai nói xa nói gần về những chương trình này hết.

Đối với vấn đề Syria, trước đây TT Obama khẳng định phải có lằn ranh đỏ (red line) giới hạn sự kiên nhẫn của Mỹ, và lằn ranh đó là việc sử dụng vũ khí hóa học. Có nghiã là khi Syria sử dụng vũ khí hoá học thì sẽ bắt buộc Mỹ phải can thiệp. Bây giờ, sau khi Syria bị bắt quả tang sử dụng vũ khí hoá học khiến cả ngàn người chết, TT Obama bị chất vấn, đã đổi giọng, cho rằng Syria đã sử dụng vũ khí hoá học thật, nhưng vẫn còn nhiều dấu hỏi như hoá học sử dụng cách nào, nhiều hay ít, đơn vị nào sử dụng. Giới truyền thông cho đây là phương thức hơi thô thiển để trốn tránh quyết định. Nhiều người nghi TT Obama cuối cùng sẽ chẳng nhúc nhích gì hết.

Người ta còn nhớ khi Khaddafi đe dọa tiêu diệt một nhóm phản quân chừng vài trăm người, thì TT Obama rùm beng nhân danh lý do nhân đạo, đại cường Mỹ có trách nhiệm với nhân loại, không thể ngồi yên nhìn vài trăm người bị tàn sát, và ra lệnh thả bom tiêu diệt thiết giáp của Khaddafi, trước khi tìm cách lật đổ Khaddafi. Bây giờ, cả chục ngàn người đã bị thẳng tay tàn sát, TT Obama vẵn bình chân như vại, viện cớ này cớ nọ không có hành động.

Không ai đòi hỏi TT Obama phải đổ bộ thủy quân lục chiến xuống bờ biển Syria hết, nhưng hai thái độ khác biệt với những biện giải tréo cẳng ngỗng chỉ nói lên tính giả dối của chính quyền Obama. Libya có rất nhiều dầu hỏa và dầu khí trong khi Syria chỉ là sa mạc. Đó mới là lý do chính cho sự khác biệt trong hai chính sách.

TT Obama xác nhận lại ông sẽ đóng cửa trại tù Guantanamo, nhưng không ai biết ông sẽ làm cách nào khi hơn bốn năm qua ông đã không làm được chuyện này.

Được hỏi về vụ các viên chức ngoại giao tại Benghazi bị giấu, cấm không cho trả lời câu hỏi của truyền thông, nếu nói chuyện với báo chí sẽ bị hậu quả trong việc làm, một tin mà một luật sư của họ đã tung lên báo, gây chấn động dư luận, TT Obama trả lời ông không biết gì về chuyện này. Truyền thông bình luận chuyện cả nước biết mà tổng thống không biết là điều vô lý không tin được.

Cuối cùng, trước áp lực mạnh của quốc hội, ông đành chập nhận cho các viên chức ngoại giao tại Libya trước đây ra điều trần trước quốc hội. Cho đến nay, cuộc điều trần chỉ mới bắt đầu, nhưng nhiều chi tiết mới đã lộ ra, cho thấy diễn tiến cuộc tấn công vào tài Lãnh Sự Mỹ tại Benghazi không giống như những lời giải thích đầu tiên của chính quyền Obama. Chỉ khiến các báo phải đặt câu hỏi: dường như tấn tuồng Watergate tái diễn, với chính quyền tìm cách khỏa lấp để rồi chuyện này chuyện kia dần bị lộ, xác nhận chính quyền đã không nói sự thật ngay từ đầu.

Thật ra, những chuyện lủng củng với truyền thông chỉ là một trong nhiều cái nhức đầu mà TT Obama phải đối phó trong thời gian qua.

Sau khi TT Obama rầm rộ đe dọa sequester tự động cắt giảm chi tiêu sẽ là thảm hoạ cho kinh tế Mỹ, chẳng ai thấy tai họa cụ thể nào. Rồi bất ngờ cơ quan kiểm không của Mỹ công bố sẽ bị bắt buộc phải sa thải nhân viên kiểm không, đưa đến tình trạng chậm trễ các chuyến bay nội địa, hàng ngàn hành khách bị kẹt tại phi trường. Dư luận nổi lên ầm ầm chống đối, nhưng không phải chống đối đối lập Cộng Hòa mà là chống đối chính quyền. Các ông bà dân cử của đảng Dân Chủ vội vàng họp khẩn, đưa ra luật cấm sa thải nhân viên kiểm không để tránh xáo trộn không lưu.

Đây là một thất bại nặng nề của TT Obama. Ông chủ trương cắt những chi tiêu nào gây chấn động mạnh dư luận nhất để làm áp lực lên phe đối lập, như cấm không cho các học sinh vào thăm viếng Tòa Bạch Ốc. Bây giờ đến tạo xáo trộn không lưu. Nhưng bị phản ứng mạnh, vội mần tuồng ra luật cấm sa thải. Trước đây không có tiền, phải sa thải nhân viên, bất ngờ dân chúng chống đối, mấy ông bà dân cử cuống lên ra luật không được sa thải, thế là Bộ Giao Thông lại bất ngờ có tiền trả lương tiếp tục không sa thải ai nữa.

Rồi Tòa Bạch Ốc làm rùm beng tin tỷ lệ thất nghiệp đã giảm thêm nhờ gần hai trăm ngàn người có việc trong tháng qua. Nhưng dư luận không ai cảm thấy “hồ hởi” trước tin này, vì thực tế tình trạng thất nghiệp đã ngày càng suy đồi chứ không khá hơn gì hết.

Theo các chuyện gia, thật ra có ba tỷ lệ thất nghiệp.

Tỷ lệ thất nghiệp gọi là U-3 theo danh từ chuyên môn là tỷ lệ mà Nhà Nước khoe khoang ầm ĩ, là tỷ lệ những người thất nghiệp nhưng đang tích cực ghi tên kiếm việc làm và xin tiền thất nghiệp. Tỷ lệ này giảm 0,1 điểm, từ 7,6% xuống 7,5% như TT Obama khoe.

Còn tỷ lệ gọi là U-6 là tỷ lệ thất nghiệp kể cả những người bị loại ra khỏi thị trường nhân lực vì chán nản không ghi tên thất nghiệp và không đi kiếm việc nữa. Tỷ lệ này tăng 0,1 điểm, lên tới 13.9%. Một kỷ lục.

Và cuối cùng tỷ lệ thất nghiệp SGS Alternative là tỷ lệ thất nghiệp bao gồm những người thật nghiệp dài hạn, hơn sáu tháng, đã bị loại ra khỏi thị trường lao động từ lâu rồi. Tỷ lệ này cũng tăng 0,1 điểm lên tới 23,0%. Cũng một kỷ lục.

Nói cách khác, tỷ lệ thất nghiệp giảm mà TT Obama khoe là tỷ lệ không chính xác, trong khi cả hai tỷ lệ kia, phản ánh tổng số người thật sự không có việc, tức là tình trạng thất nghiệp thật sự mà TT Obama không nhắc đến, lại tăng đến những mức kỷ lục. Và con số thất nghiệp của Mỹ hiện nay là 23% chứ không phải 7,5%. (Qúy độc giả hiếu kỳ có thể vào Google truy cập “Unemployment Rate” để tìm hiểu thêm)

Thực tế là các công ty đã lợi dụng khủng hoảng kinh tế để sa thải nhân công, rồi không mướn lại mà tập trụng khai thác việc sử dụng máy móc, nhất là khi công nghiệp điện toán ngày càng tân kỳ. Với kiểu hoạt động này, các công ty đều đạt được thành quả vượt bực, lời càng ngày càng nhiều, đưa đến tình trạng thị trường chứng khoán leo thang từ kỷ lục này đến kỷ lục khác. Tuần vừa qua, chỉ số Dow Jones lần đầu tiên trong lịch sử, đã vượt qua mức 15.000.

TT Obama đã từng khoe chuyện thị trường chứng khoán rất mạnh. Điều ông không nói là thị trường chứng khoán leo thang chỉ làm giàu cho các đại gia sở hữu chứng khoán, các ông tỷ phú quản lý các quỹ đầu tư, và các anh môi giới mua bán chứng khoán, trong khi dân lao động vẫn dài cổ trông mong việc làm.

Việc TT Obama bị dán nhẫn hiệu “vịt què” mới 100 ngày sau khi tái đắc cử là chuyện lạ, nhưng không bất ngờ khi ta nhìn vào thành quả hầu như chẳng có gì trong ba tháng qua. Với một Hoa Thịnh Đốn phân hoá hơn bao giờ hết, TT Obama đã bị bó tay từ hơn hai năm qua, sau khi đối lập Cộng Hòa đại thắng năm 2010.

Trong khi tranh cử năm ngoái, TT Obama đã khẳng định nếu cử tri bầu lại cho ông thì coi như đã chuyển đến phe đối lập một thông điệp rõ ràng, và Cộng Hòa sẽ phải ngoan ngoãn thi hành những chương trình cải cách vĩ đại mà ông sẽ đề ra. Thực tế là cử tri đã bầu ông lại, nhưng cũng bầu cho Cộng Hòa giữ thế đa số trong Hạ Viện để kiềm chế ông. Để rồi đối lập cũng vẫn tiếp tục kiên cường trong quan điểm chống Obamacare và chống chính sách vung tay xài tiền rồi đè xấn thiên hạ ra thu thuế, đưa đến tình trạng TT Obama chẳng làm được gì. Chính TT Obama cũng kiên cường không kém khi không chịu thỏa hiệp với đối lập, mà nhất quyết ép đối lập phải “làm chuyện đúng” theo định nghiã của ông.

Điều đáng lo là như vậy thì trong gần bốn năm tới, TT Obama còn có thể làm được gì ngoài chuyện đi du lịch thế giới và đánh gôn?

Tương lai còn mù mịt hơn nữa nếu ta nhìn kỹ vào những hứa hẹn của TT Obama: toàn là những chuyện vá trời không thể thực hiện được cho dù có sự hợp tác của đối lập.

Điển hình là vấn đề chi tiêu của Nhà Nước. Trong bối cảnh kinh tế èo uột, thâm thủng ngân sách và công nợ ngập đầu mà TT Obama hứa hẹn tăng lương tối thiểu và mẫu giáo miễn phí, chỉ là chuyện không bao giờ có thể thực hiện được. Chưa kể những hứa hẹn cũ như tăng thêm ba chục triệu người vào thị trường y tế trong khi vẫn không tăng chi phí y tế. Cũng chưa kể lời hứa sẽ cắt chi tiêu 4.000 tỷ trong 10 năm mà không cần cắt giảm Medicare và Medicaid, không cải tổ Social Security, không đụng đến chi tiêu quốc phòng. Một bài toán kiểu một cộng một là… một trăm! Mà chỉ có TT Obama mới làm được và cũng chỉ có các đệ tử trung kiên nhất mới tin được.

Những khó khăn của TT Obama đang khiến đảng Dân Chủ lo ngại cho các cuộc bầu cử tới. Nhất là khi các nghiên cứu về kết quả bầu cử tổng thống vừa qua cho thấy TT Obama tái đắc cử nhờ phiếu của cử tri da đen vì tỷ lệ dân da đen đi bầu cao hơn tỷ lệ dân da trắng rất nhiều. Nói cách khác, TT Obama đắc cử nhờ dân da đen trong khi dân da trắng bỏ đảng Dân Chủ hàng loạt. Nếu dân da đen đi bầu èo uột như các kỳ bầu cử trước, TĐ Romney đã thắng rồi. Kỳ bầu cử lần tới, không còn ứng viên da đen Obama, hy vọng đắc cử của một ứng viên Dân Chủ không có gì chắc chắn.

Đặc biệt khi mọi người đều nhìn rõ đối tượng vụ điều tra của quốc hội về vụ khủng bố tấn công Benghazi, thật sự ra là bà Hillary, cựu Ngoại Trưởng khi vụ tấn công xẩy ra, mà cũng là người được coi như có nhiều hy vọng đại diện cho Dân Chủ ra ứng cử tổng thống năm 2016. (12-05-13)

Vũ Linh

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Cộng Đồng Có cần nghị quyết cho ngày 30/4 không?

Cộng đồng người Việt Hải Ngoại Có cần Nghị Quyết cho ngày 30/4 không?

Hoàng Ngọc An

Tôi không hiểu vì sao năm nay lại có nhiều nơi vận động chính quyền Hoa Kỳ để có Nghị Quyết về ngày 30 Tháng 4. Ngày này đã được cộng đồng người Việt quốc gia toàn thế giới đồng loạt đặt tên rất chính xác: Ngày Quốc Hận.

Ngày Quốc Hận với cộng đồng người Việt hải ngoại

Trong ngày này, một lễ được trang trọng tổ chức nhằm mục đích tưởng niệm một quê hương bị tước đoạt bởi cộng sản; tưởng niệm những người đã ngã xuống trong suốt chiều dài của 20 năm cuộc chiến chống cộng và đặc biệt vinh danh những anh hùng tuẫn tiết trong những ngày cuối của cuộc chiến này; tưởng niệm những người đã bỏ mình trong cái gọi là “trại cải tạo” của vc; tưởng niệm những người đã bỏ mình trên biển cả hay rừng sâu khi đi tìm tự do.

Sự tưởng niệm trên đủ nhắc nhở những người đã trải qua cuộc chiến và giáo dục cả những thế hệ chưa từng biết cộng sản. Đương nhiên khi nhắc nhở như vậy, ai cũng hiểu con đường đi tới là quang phục quê hương. Do Thái trước kia đã phiêu bạt khắp thế giới nhưng khi tiếng gọi “Exodus” vang lên, họ ùn ùn bỏ tất cả những gì đang có ở quê người để về xây dựng quê hương. Sự xây dựng của họ muôn vàn khó khăn khi vây quanh bởi khối Ả Rập. Họ đã chiến đấu anh dũng để trường tồn. Do Thái là quốc gia duy nhất mà toàn dân được động viên kể cả phụ nữ.

Thế hệ trẻ 1,5 hay 2 của Việt Nam Hải Ngoại cũng thừa hiểu, không bao giờ họ là người bản xứ được cả. Cái đầu đen và mầu da ấy không bao giờ len được vào chính thống ở vị trí cao. Tuy bề ngoài Hoa Kỳ hô hào này nọ nhưng thực tế sự kỳ thị vẫn tồn tại. Thế hệ trẻ có thể không có ý nghĩ về sống tại Việt Nam nhưng mơ hồ trong họ, giòng máu cha ông Việt vẫn tồn tại, vẫn đang chảy và đến một lúc nào đó sẽ nhắc nhở cho họ về cội nguồn. Lúc đó, họ sẽ cháy bỏng ước mơ đóng góp cho quê hương.

Vì lý do đó, Ngày Quốc Hận phải được duy trì với đầy đủ hình ảnh, lịch sử và thực chất của nó. Không cần phải dịch chữ này sang tiếng Anh. Hãy cứ để “Ngày Quốc Hận” trong ngoặc kép. Thế là đủ.

Ngày 30 Tháng 4 với người Hoa Kỳ

Về phía người Mỹ, Ngày 30/4 có ý nghĩa gì với họ? Cá nhân tôi nghĩ rằng, có lẽ đa số dân chúng Mỹ chẳng có một ý niệm gì về ngày này.

Giới tư bản Hoa Kỳ thì khỏi nói. Họ là “đầu sỏ” của mọi thứ nên nếu LS Lưu Nguyễn Đạt có tặng cho họ cái tên sau đây, tôi nghĩ cũng xứng đáng “Ngày dẹp tiệm danh dự tư bản Hoa Kỳ”.

Giới truyền thông Hoa Kỳ thì tôi cho rằng tặng họ cái này “Ngày chiến thắng của truyền thông bịp bợm”.

Giới quân nhân Hoa Kỳ thì “Ngày thảm hại của các vị tướng bị tư bản khuynh loát”.

Do đó, đa số người Hoa Kỳ chẳng có lý do gì để “remember” ngày 30/4 cả. Có thể nói không ngoa, họ còn muốn quên đi là khác. Gia đình của 58,000 lính Mỹ tử trận cũng không vui vẻ gì để phải “nhớ” ngày đó.

Tại sao lại có sự vận động các nghị quyết cho ngày 30/4?

Vậy thì tại sao lại có “phong trào” xin nghị quyết?

Tôi “đoán” như thế này:

Các vị dân cử Mỹ (đã và sẽ) thì với mục đích “bầu cử” sẽ tìm cách “sản xuất” ra nghị quyết nếu có một người Việt nào đó “gợi ý”. Nhóm dân cử Hoa Kỳ này có thể “ngây thơ” không tìm hiểu kỹ, chỉ nghe “người Việt” ấy nói rồi vận động Quốc Hội.

Nếu “người Việt ấy” là một doanh gia, một vị làm trong Phòng Thương Mại (nghĩa là những người có thể từ trước đến nay không đóng góp gì cho công cuộc đấu tranh, giờ thứ 25 bỗng xuất hiện) hay một vị “tai tiếng nhiều hơn tăm tiếng” thì đương nhiên cộng đồng phải xét lại. Nhất là cái danh xưng “Ngày Quốc Hận” đã bị đổi thành “Ngày Nam VN” thì quả là khó chấp nhận.[1]

Nếu “người Việt ấy” là một người từng hoạt động cộng đồng, tham gia các công tác địa phương thì chúng ta cũng không nên khắt khe nhất là khi danh xưng không bị đổi và mục đích vẫn là “tưởng niệm” hoặc “black April”. [2]

Người Việt Hải Ngoại có cần nghị quyết nào cho ngày 30/4 không?

Bao nhiêu năm nay, cứ đến 30/4 là chúng ta làm Lễ cho Ngày Quốc Hận. Tự chúng ta làm và hoàn toàn không cần bất cứ một thứ nào từ người Mỹ, chính quyền Mỹ cho ngày này cả. Vị dân cử nào có lòng chia sẻ đến tham dự, chúng ta cảm ơn. Thế thôi.

Mọi sự ủng hộ từ chính quyền Hoa Kỳ, chúng ta hoan nghênh nhưng ủng hộ theo kiểu cấp nghị quyết đổi tên Ngày 30/4 thì Không, Không và Không.

Lý do: Việt Nam Cộng Hòa đã bị Hoa Kỳ đẩy ra phía trước làm nhiệm vụ “tiền đồn” bảo vệ thế giới tự do. Oái oăm thay, những người đi “bảo vệ tự do” cho thế giới, cuối cùng lại bị “mất tự do” mà cái dấu chấm hết to tướng là ngày 30/4. Cái mất tự do đó đã kéo theo bao hệ lụy đến tận ngày nay.

Về một phương diện nào đó, người Việt hải ngoại cảm ơn chính phủ Hoa Kỳ và đồng minh trong việc “tị nạn”vc.

Về một phương diện khác, Hoa Kỳ “nợ” dân tộc Việt Nam một món nợ rất lớn mà không có một nghị quyết vinh danh nào có thể xứng. (Món nợ đã “đẩy” VNCH làm tiền đồn chống cộng, bảo vệ tự do cho khối tư bản rồi Mỹ lại bỏ rơi để người Việt mất quê hương, mất tự do)

Tóm lại, từ vài vị người Việt “tử tế hay không tử tế”, một vài dân cử Hoa Kỳ đã vận động cho ra đời các nghị quyết liên quan đến Tháng 4. Các nghị quyết nào không đụng đến ngày 30/4, không đổi Ngày Quốc Hận sang tên khác, chúng ta hoan nghênh. Bằng trái lại, chúng ta không đồng ý.

Cá nhân tôi nghĩ thế!

Hoàng Ngọc An

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Tài Liệu về vụ Nghị Quyết SJ 455 của Lưỡng Viện VA ( công nhận n gày 30/4 là Ngày Miền Nam VN)

Ngày 2 Tháng 4, 2013, BMH tại MD phổ biến bài viết của Tâm Việt (tức GS Nguyễn Ngọc Bích). Nội dung bài Tâm Việt nói về việc Lưỡng Viện Quốc Hội Virginia ra Nghị Quyết SJ 455 công nhận ngày 30/4 là Ngày Miền Nam VN.

Khắp nơi phản đối. Chủ tịch Tổ Chức Cộng Đồng VA là ô Đoàn Hữu Định và Chủ Tịch Liên Hội CCS Tạ Cự Hải cũng không tham dự.

Tổ Chức Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hoa Kỳ đã thâu thập chữ ký khắp nơi để gửi Kháng Thư lên Quốc Hội xin dành ngày đó vào ngày khác thay vì ngày Quốc Hận.

Dưới đây là những bài liên quan đến vấn đề này:

KHÁNG THƯ Của Tập Thể Người Việt tại Hoa Kỳ V/V Quốc Hội Tiểu Bang Virginia Ban Hành Quyết Nghị SJR 455

· Lưu Nguyễn Đạt-Chính Danh của Ngày 30/4-Ngày lừa đảo trường kỳ c ho vc, Ngày Dẹp Tiệm Danh Dự Tư Bản HK cho Mỹ , Ngày Quốc Hận ch o CDNVQGHN

· Trương Minh Hòa-NGUYỄN NGỌC BÍCH VÀ VÀI KẺ MỆNH DANH LÀ PHÒNG THƯƠNG MẠI Á CHÂU, LẤY DANH NGHĨA GÌ ĐỂ THAY TÊN NGÀY QUỐC HẬN?

· Tổng Hội CTNCT- Tuyên bố Phản Đối Âm mưu xóa ngày Quốc Hận

· E-Mail của Lữ Anh Thư nói về Nghị Hội của ô Nguyễn Ngọc Bích nhâ n vụ NQ tại VA nhằm xóa Ngày Quốc Hận

· Báo Túm-Vụ Quốc Hội VA ra NQ đổi “Ngày Quốc Hận” t hành ” Ngày Nam VN”

· Xin ghi tên phản đối Nghị Quyết đổi ngày Quốc Hận sang Ngày Công Nhận miền Nam VN của Quốc Hội Virginia được vận dộng bởi Phan Đ ức Tính-Trần Mỹ Lan ở Richmond, VA

· Tôn Nữ Hoàng Hoa-kêu gọi CĐ phản đối ( Nguyễn Ngọc Bích-Nguyễn M ậu Trinh-Trần Mỹ Lan-Phan Đức Tính) trong âm mưu xóa bỏ NQ 137/n ăm 2002, thay bằng NQ 455/2013 để xóa Ngày Quốc Hận

· Lê Duy San-Ngày Quốc Hận 30-4

· Bé Bảy-Xin hỏi quý ông Chủ Tịch Đoàn Hữu Định và Tạ Cự Hải v/v 2 hội có đến Richmond dự lễ đổi Ngày Quốc Hận không?

· Lão Móc- Phải Chăng Đảng VT lại Âm Mưu Đổi Ngày Quốc Hận để chạy tội cho Vc?

· Hoàng Lan Chi – “Ngày Quốc Hận” bị biến thành “Ngày Nam Việ t Nam’?

· Trần Gia Phụng-Âm mưu biến ngày Quốc Hận thành Ngày Thuyền Nhân?

Posted in Uncategorized | 4 Comments

Lưu Nguyễn Đạt-Chính Danh của Ngày 30/4-Ngày lừa đảo trường kỳ c ho vc, Ngày Dẹp Tiệm Danh Dự Tư Bản HK cho Mỹ , Ngày Quốc Hận ch o CDNVQGHN

Hoàng Ngọc An xin giới thiệu bài viết của LsTS Lưu Nguyễn Đạt về ” Chính danh của ngày 30 tháng Tư“.

Mấy vị LS viết thì có lý luận nhưng mấy vị vướng vào lỗi là quá dài dòng.

Một bài viết dài chỉ thích hợp ở “báo in”, hay thập niên 80.

Để được phổ biến mạnh mẽ tư tưởng, quan điểm, nhận định của mình, các tác giả nên viết ngắn vì thời buổi net quá nhiều tin tức. Viết dài với lối nhập đề “lung khởi”, đi từ nguyên nhân đến kết quả, sẽ bị nhiều netters dù có lòng với tổ quốc, cũng yêu quê hương đấy, cũng thương đồng bào đấy, cũng quan tâm dến thời sự quanh ta đấy, nhưng vì “già nua, mắt kém, hoặc bận cà phê, bù khú, nhậu nhẹt với bạn bè; hoặc bận điều hành thương mại như chủ tiệm ăn, tiệm nail, tiệm thuốc.., chỉ còn chút thì giờ lướt lướt lướt mails;” mà thấy bài dài là ngán ngẩm không đọc.

Vì biết thế tôi thường phải bỏ thì giờ ra “túm tắt” hay hight light cho những vị “làm biếng” trên chịu khó đọc một tẹo. Có đọc nhiều mới “vỡ” ra. Có đọc nhiều mới “hiểu” ra. Cá nhân tôi cũng vỡ, hiểu, là nhờ đọc bài từ các vị, tôi tạm gọi là “cao nhân” ở khắp nơi đấy chứ. (cười)

Tôi tô hồng những nơi quan trọng.

Túm tắt hôm nay của tôi cho bài này là

1) Chủ đề chính là nói về sự chính danh của ngày 30/4. Sở dĩ có bài này là thời gian qua, tại VA, nhóm ô Phan Đức Tính (thương gia) bà Mỹ Lan ( Phòng Thương Mại) đã vận động TNS Dick Black ( sau này GS Nguyễn Ngọc Bích tham gia) để Quốc Hội VA ra nghị quyết công nhận ngày 30/4 là ngày ‘Miền Nam VN”. Khắp nơi phản đối.

2) Tác giả cho rằng ngày 30/4 với VC là ngày “Lừa Đảo Trường Kỳ”, với Hoa Kỳ là “Ngày Dẹp Tiệm Danh Dự Tư Bản Hoa Kỳ” trên mảnh đất Việt Nam thua lỗ, để ít lâu sau giới đầu tư mở vài cửa tiệm khác lời lãi hơn tại Thượng Hải và Bắc Kinh; với cộng đồng người Việt quốc gia ở hải ngoại thì đó là “ngày Quốc Hận” mà tác giả thích nhóm chữ dịch “Vc-Hatred day”. Một vị LS khác cho rằng cứ để nguyên “Ngày Quốc Hận” trong ngoặc kép trong các văn bản Anh ngữ.

Hoàng Ngọc An

*************************************************************************************************************

“Chính Danh” của Ngày 30 Tháng Tư 1975

Lưu Nguyễn Đạt

Học thuyết “Chính Danh”[1] của Khổng tử không chỉ được áp dụng trong lĩnh vực chính trị, cai trị, mà còn được ông áp dụng trong cách gọi tên sự vật, đồ vật, ý niệm… ứng dụng ở đúng vị trí, không được lẫn lộn, không được tùy tiện… [a] danh bất chính tất lời nói không thuận. Lời nói mà không thuận tất việc chẳng thành… Còn khi [b] quan niệm được danh, ắt nói ra được, mà nói ra được tất làm được. [c] Người quân tử nói ra điều gì nên dè dặt không cẩu thả được!” [Học thuyết “Chính
Danh” — Khổng tử trongLuận Ngữ]

Rõ ràng, ngày 30 Tháng Tư năm 1975 là một ngày lịch sử trọng đại. Không ai có thể chối cãi, gạt bỏ, quên đi. Đó là một ngày đáng ghi nhớ. Nhưng ý nghĩa của ngày đó tùy thuộc vào đối tác và hiệu ứng liên hệ. Nhưng danh chính ngôn thuận vẫn là căn bản đối chiếu và định hướng cần thiết cho việc xác định “chính danh” của “ngày 30 Tnáng Tư” này.

1. Đối với Đảng CSVNvà những Thành Phần Nhị Trùng, Cận Thị, Lú lẫn, Tự mãn

Đối với Đảng CSVN vừa đoạt quyền và những thành phần nội tuyến hay liên kết “giai đoạn” trên, Ngày 30 Tháng Tư được gọi là ngày vui của kẻ “thắng cuộc”, của các nhân vật lịch sử đáng “ngưỡng mộ”.

Nhưng thực sự đó lại là ngày liên hoan hão của kẻ “thắng cuộc” ảo, vì ngày đó chỉ là sao ảnh của một chuỗi dài thủ đoạn chính trị lừa đảo, bất chính.

Thực chất của cuộc chiến Việt Nam (1955-1975) từ đầu cho tới cuối, hoàn toàn “không ăn nhập gì tới lòng ái quốc, yêu nước thương dân”, mà báo chí Tây Phương thường gán ghép để có cớ ca tụng Hồ Chí Minh và đảng VC trong suốt cuộc chiến. Đối với Liên Xô thời đó, gây chiến “lại là kế hoạch nô lệ hoá toàn cầu của cộng sản đệ tam quốc tế”. Ðiều này cũng đã được nhiều cán bộ cao cấp của VC như Trần Bạch Ðằng, Võ Văn Kiệt xác nhận. Hậu cứ cuộc chiến không phải tại Hà Nội, mà ở Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh.[2]

Ngay từ cuối năm 1924, Hồ Chí Minh chỉ là một tay thừa hành của khối cộng sản đệ tam quốc tế: như khi còn là Nguyễn Ái Quốc, rồi Lý Thụy, Hồ Chí Minh từng làm cán bộ thông dịch trong phái đoàn cố vấn của chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ Trung Hoa Dân quốc, do Mikhail Markovich Borodin làm trưởng đoàn; hay khi phát động những đợt “cải cách ruộng đất”, cố sát tập thể từ năm 1953 tại vùng Thanh Hoá, Liên Khu IV tới năm 1956, trên khắp miền Bắc, dưới sách động trực tiếp của Trường Chinh, Tổng bí thư Đảng và đương nhiên dưới quyền chỉ đạo của thủ lãnh Hồ Chí Minh. Mọi chương trình giết hại dân, thổ phỉ đều rập khuôn theo mưu đồ Trung Cộng và trịnh trọng khai báo với Staline. Vậy, căn cứ vào thuyết “Chính Danh”, Hồ Chí Minh không bao giờ là một nguyên thủ quốc gia, một “minh vương” tân thời đáng trọng vọng, “ngưỡng mộ”. Trái lại, Hồ Chí Minh chỉ là một tên “bạo chúa”, một “quân tàn tặc”.

Kể cả trong các cuộc chiến miền Bắc và mặt trận Điện Biên Phủ [1954], chính các cố vấn Trung Cộng do Vy Quốc Thanh, Lã Quí Ba cầm đầu đã đánh thắng quân Pháp chứ không phải là “danh tướng” Võ Nguyên Giáp. Ông ta chỉ là người thi hành kế hoạch do cố vấn Trung Quốc Vy Quốc Thanh đề ra. Sự giúp đỡ của Trung Cộng còn tiếp tục trong cuộc chiến xâm lăng miền Nam [1963-1975].

Như vậy, với ngày 30 tháng Tư 1975, không hề có thực trạng “Giải phóng” vì sau khi chính sách chiếm đóng và thống trị miền Nam đã được thực hiện, Bắc Phủ Bộ loại bỏ ngay Mặt trận Dân tộc Giải Phóng miền Nam Việt Nam, như một dụng cụ phế thải, không cần thiết nữa.

Ngày 30 tháng Tư 1975 cũng không hề giành lại “độc lập” và “chủ quyền” cho dân tộc, cho đất nước, khi đảng Cộng Sản Việt Nam từ 1950 tới 1975 đã dựa vào Trung Cộng quá nhiều, nên sau đó phải trả nợ. Hậu quả là Việt Nam, từ ranh giới, núi rừng, biển đảo, tới toàn bộ chính quyền đang mất dần vào tay Trung Cộng. Như vậy, không những chỉ người dân miền Nam Việt Nam —kẻ thua trận sau ngày 30 tháng Tư 1975—, mà là cả dân Tộc Việt Nam đã và đang “mất nước”, mất tự do, hạnh phúc, an sinh, mất danh dự làm người có căn cước gốc Việt chân chính, tử tế, nhân đạo.

Ngày 30 tháng Tư cũng chưa thực sự là “Ngày Hoà Bình” trên đất nước, trong lòng dân, khi triệu triệu con người đi tù, đói khát, chọn lựa tẩu thoát bằng chân, bằng tàu bè, bằng nhiều cách tự sát, chọn cái chết liều lĩnh để thay cái chết khốn nạn. Do đó, thực tế, ngày 30 tháng Tư 1975 đang xô đẩy CSVN vào tử lộ — không lối thoát, vì sau khi hết chiến tranh, sau khi đã tạm bợ “thống nhất” đất nước, CSVN hết luôn cơ hội trì hoãn, hứa bậy, nói láo: Miền nam Việt Nam và Sài Gòn đã làm quân đội, cán bộ và nhân dân miền Bắc “sang mắt”, giác ngộ. Cũng ngày 30 tháng Tư đó, cụu đảng viên CS và nhà văn Dương Thu Hương đã phải khóc và công nhận: “30 tháng Tư 75, nền văn minh đã thua chế độ man rợ”. Bà và các thế hệ trẻ miền Bắc đã bị Đảng lừa. Kể cả cựu thượng tá Bùi Tín, sau khi “đào ngũ” tại Pháp, cũng phải phát động xám hối:

Tôi bỏ hết danh vọng hão, chức tước phù du, huân chương mai mỉa, tự hổ thẹn từng cao ngạo vô duyên về chuyện vào dinh Độc lập sớm,xế trưa ngày 30-4, vớ vẩn lạc điệu cả, cá nhân lầm lạc, ngộ nhận hết. Để làm gì cơ chứ? Để đất nước ra nông nỗi này ư ? Độc lập, không! Tự do, không ! Chủ quyền, không ! Về mặt nào cũng đứng dưới 100 nước khác!”

Tình trạng trên cho phép xác định rằng, [a] đối với đảng CSVN tiếm quyền thực-dân thì ngày 30 tháng Tư đáng gọi là “Ngày Lừa Đảo Trường Kỳ”; còn đối với [b] toàn dân bị tước đoạt của cải, đời sống, tự do, an sinh — ngoại trừ một thiểu số đảng viên CS lì lợm, tân đại gia kẹt ăn, kẹt nói — thì đó là “Ngày Toàn Dân Đau Nhục Sợ Hãi”. Đau đớn, bẽ bàng vì mất lòng tin, mất chính nghĩa, mất danh dự, bị lừa đảo. Tủi nhục vì tù đày, oan ức, túng thiếu, chậm tiến; Sợ hãi vì bị đe doạ, nô lệ hoá, khai trừ ngay tại đất nước mình; vì bị ngược đãi bởi người cùng xứ sở, bởi cái chế độ quan liêu nửa mùa, ông không ra ông, thằng không ra thằng.

2. Đối với Hoa Kỳ

Gắn liền với cuộc chiến Việt Nam có dấu ấn của Chủ Nghĩa Be-bờ [Containment
Doctrine
].[3] Chính sách này được liên tiếp đôn đốc bởi 6 Tổng Thống Hoa Kỳ từ sau Đệ nhị Thế Chiến tới thập niên 70 nhằm:

  • khẳng định nguy cơ của khối cộng sản chuyên chế sẵn sàng xâm nhập thế giới tự do trong cuộc “Chiến Tranh Lạnh” [Cold War].[4]
  • tránh “hiệu ứng Domino” [“domino effect”][5] gây cảnh các quốc gia tuần tự đổ theo khi một quốc gia lân cận bị cộng sản chiếm đoạt.
  • Về mặt quân sự, Chủ Nghĩa Be-bờ chỉ chú trọng tới hình thức “ngăn chặn, đề phòng” trong thời kỳ “Chiến tranh Lạnh”,
  • hoặc nếu có xung đột, thì áp dụng sách lược “Chiến tranh hạn chế” [“limited war”
    policy
    ]. Điển hình, tuy đã cho phép Douglas MacArthur vượt vĩ tuyến 38 tiến đánh Bắc Hàn, Truman vẫn khiển trách danh tướng này đã chủ động “quyết thắng” hơn là thi hành thuần Chủ Nghĩa Be-bờ, mà về mặt quân sự, MacArthur chê là một giải pháp nhì nhằng “Không-Cốt-Thắng” [“No-win policy”].[6]

Chủ nghĩa Be-bờ diễn tiến tại Việt Nam như một vở tuồng bốn màn:

  • Khai mở với sáng kiến của TT Truman & TT Eisenhower ủng hộ TT Ngô Đình Diệm;
  • xác định vị trí “be-bờ“ do TT JK Kennedy & Cố Vấn Bundy dùng Việt Nam làm thí điểm;
  • biến hoá cao độ với TT Lyndon Johnson;
  • để lần lượt tụt hậu và chấm dứt trong “danh dự”,[7] với TT Nixon và ngoại trưởng Kissinger, ngoài sự mong muốn của TT Nguyễn Văn Thiệu.

Sự thực cả bốn hoạt cảnh đó gom lại vẫn chỉ là “bề diện ngoài” của một ý đồ bền bỉ, vốn là cái tâm của Chủ Nghĩa Be-bờ: quyền lợi của Tư bản Hoa Kỳ. Căn cứ vào chính ngôn từ của Chủ Nghĩa Be-bờ, cuộc chiến hạn chế ở nhiều mặt trận trên thế giới và tại Việt Nam nhằm :

  • vừa có tác động be-bờ bảo toàn an ninh cho từng khu vực,
  • vừa làm hao mòn đối tác của cuộc chiến hạn chế, kéo dài, chuyển hoá;[8]
  • Nhưng cũng có thể bị mắc kẹt vào cái nạn lạm phát của đà vận chuyển guồng máy sản xuất do tư bản ứng vốn. Tiềm lực phồn thịnh lên xuống, đôi khi mang tai ách của hiện tượng mà chính TT Eisenhower e ngại: trí tuệ, thiện tâm đôi khi bị chi phối và tận dụng bởi cơ sở liên kết “Tập Đoàn-Kỹ Nghệ-Quân Sự” [Military Industrial Complex].[9] Cái phương thức đấu tranh cho lẽ phải và hoà bình đôi khi quá đắt, quá đáng: “This conjunction of an immense military establishment and a large arms industry is new in the American experience…In the councils of government, we must guard against the acquisition of unwarranted influence, whether sought or unsought, by themilitary-industrial complex. The potential for the disastrous rise of misplaced power exists and will persist. We must never let the weight of this combination endanger our liberties or democratic process.” — President Dwight Eisenhower.[10]

Với cái “tâm” của Chủ Nghĩa Be-bờ trên, chúng ta thấy rõ là lý do tại sao chính thể và quân đội Việt Nam Cộng Hoà chỉ được phép “thi hành” một trận chiến phòng thủ, vừa tiêu mòn, vừa luộm thuộm, vì không ai [kể cả tướng tá Hoa Kỳ] có sáng kiến “đánh thực/thắng thực” [Không-Cốt-Thắng/“No-win policy”/ như
MacArthur than phiền thời chiến tranh Cao Ly/Triều Tiên], nhất là khi “đồng minh” Việt Nam không hề “thực sự” được giao quyền sở hữu cuộc chiến lẫn định mệnh sống còn. Quân dân Miền Nam Việt Nam tranh đấu không khác gì những “con cờ người” đem nhiệt tình máu mủ vào một “bàn cờ chính trị quốc tế” viễn kiểm bằng trí tuệ và quyền lợi tài phiệt vô cảm. Chúng ta biết cảm ơn những binh sĩ trẻ đã tới Miền Nam bảo vệ tính mạng dân chúng và những chính khách, chuyên viên có thiện chí thực sự thi hành công cuộc “be bờ” tạo dựng dân chủ non nớt. Nhưng chúng ta vẫn ai oán khi “chính trị thực tế” [Real Politics] cho thấy chúng ta thực sự không có chủ quyền quyết định về vận mệnh của chúng ta, ngoài việc nhận lấy những việc đã rồi, xắp xếp sau lưng chúng ta, không một chút liêm sỉ và không mấy thướng xót cho kẻ đồng hành, đồng minh kém vế.

Quyền lợi của các tài phiệt sản xuất nhu liệu chiến tranh mỗi lúc mỗi tăng trưởng, mỗi lúc mỗi phân hoá, biến thể làm hao hụt công quỹ và tài lực của dân chúng. Tổng kinh phí của chiến tranh tại Việt Nam lên tới 111 Tỷ Mỹ Kim [khoảng hơn 700
tỷ Mỹ Kim theo vật giá năm 2008], dù hạn chế vừa đủ để nuối dưỡng cái lò cơ khí đạn dược siêu đẳng này, một lúc nào đó sẽ bị coi là quá đáng, quá mức chịu đựng của công quỹ Hoa kỳ. Dân chống đối, vì thuế cao, đời sống đắt đỏ. Một số chính khách đã cho rằng CS “thắng cuộc chiến tại Việt Nam trên đường phố Hoa Thịnh Đốn”. Thật vậy, Việt Nam đã mất vào tay CS ngay trong phòng sinh hoạt gia đình tại Hoa Kỳ, chứ không phải nơi chiến trường tại Việt Nam [Vietnam was
lost in the living rooms of America–not on the battlefields of
Vietnam
].[11]

Và khi tư bản Hoa Kỳ thấy hết lời, hết lợi ích đầu tư, họ rút vốn xoá bài, và mặt trận tiêu thụ nhu liệu đó chấm dứt cái một. Đó là lý do Hiệp Định Paris được ký kết một cách ép uổng [đối với VNCH] vào năm 1973 và sau đó mọi cam kết, hứa hẹn trợ giúp quân sự, bảo trọng thành trì cũng bị nuốt lời, tẩy xoá. Vậy Ngày 30 tháng Tư 1975, khi Đại sứ Graham Martin vội vã lên trực thăng tẩu thoát khỏi Sài Gòn thì thời điểm đó có thể gọi là “Ngày Dẹp Tiệm Danh Dự Tư Bản Hoa Kỳ” trên mảnh đất Việt Nam thua lỗ, để ít lâu sau giới đầu tư mở vài cửa tiệm khác lời lãi hơn tại Thượng Hải và Bắc Kinh, đúng theo nhu cầu, quyền lợi và truyền thống trọng thương của các con buônCorporate America, luôn luôn có luật sư và chuyên viên an ninh, kinh tài tư vấn, và được các “lobbists” đôn đốc quyền lợi đặc biệt nơi thâm cung [special interests & inner circle] cần móc nối.

3. Đối Với Đa số Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản [VTNCS] tại Thế Giới Tự Do và Các Nạn Nhân Bị Kẹt Trong Nước

Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản [VTNCS] là ai?

Họ không phải là “Việt kiều”, những “người Việt ở nước ngoài”, những di dân kinh tế, du sinh, hay dân chúng du lịch xuất ngoại rồi ở lì “nước ngoài”. Trái lại, họ là gần 3 triệu người dân Việt chung một số phận lịch sử, một căn cước “Tỵ Nạn Chính trị” [“political
refugees”
] mà báo chí ngoại quốc gọi là “exilés politiques” hay “Vietnamese Diaspora” [cùng hoàn cảnh, vị thế, thân phận của nhóm người Do Thái mất nước, tỵ
nạn tại nước ngoài].

Những người “Tỵ Nạn Cộng Sản” này đã phải trốn bỏ đất nước, bằng đủ cách lén lút đường bay, đường biển, đường bộ. Họ đã từng chấp nhận mọi hoàn cảnh nguy nan, hãm hiếp, chết chóc, cốt để ra khỏi địa ngục trần gian của Bác và Đảng. Họ được xếp loại di dân đặc biệt, với những chứng minh thư như Parolee I-94, ODP, HO, chung gốc “political refugees”, hay “réfugiés politiques”, “exilés”, “diaspora”. Họ luôn luôn là Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản vậy. Nếu ai khước từ danh xưng này sẽ gập trở ngại với luật di trú, coi như vi phạm vì dối trá, gian lận [fraud] lúc khai báo nhập cảnh, và như thế bất cứ lúc nào cũng có thể bị trục xuất.

Dù ngày hôm nay họ có quốc tịch mới nơi trú ngụ [tại Hoa kỳ, Gia Nã Đại,
Úc, Pháp, Đức, Na Uy, Nhật v.v.], nhưng họ vẫn cùng gốc gác người Việt chuộng tự do nhân bản bị đầy khỏi nước, trực tiếp hay gián tiếp. Họ xuất xứ từ miền Bắc, miền Trung, tỵ nạn CSVN từ 1954. Họ hoà nhập với người dân hiền lành miền Nam Việt Nam để xây dựng và nhận hưởng một nền dân chủ non nớt, khó khăn thời chinh chiến. Cuối cùng, từ ngày 30 tháng Tư 1975, Họ chỉ là những người Việt tứ xứ, có chung một đất nước, một chính thể tự do, bị CSVN đánh tháo từ Mùa Thu 1945, chiếm đoạt năm 1954, rồi 1975. Vậy những người VTNCS không phải là những người vô tổ quốc [apatrides], mà là những người có tổ quốc, nhưng tổ quốc của họ đã bị CS quốc tế cướp mất. Như người bị kẻ gian cướp đoạt nhà cửa, tài sản, rõ ràng họ đang mất cửa, mất nhà, mất tài sản, nhưng về mặt pháp lý họ vẫn là sở hữu chủ thực sự của căn nhà, tài sản bị cướp đoạt. Vậy dù người Việt Tỵ Nạn CS ngày nay đang bị CSVN tước đoạt đất nước, nhà cửa, và cũng có thể còn bị CSVN cầm cố, chuyển nhượng cho Trung Cộng, nhưng về mặt pháp lý, công lý và chính nghĩa, người Việt Tỵ Nạn CS vẫn là công dân của đất nước và chính thể tự do mà CSVN đã phá hoại, tước đoạt. Người VTNCS có quyền truy hoàn tư cách công dân của họ đối với đất nước Việt Nam nguyên thủy, trước cũng như sau nền đô hộ cộng sản. Vậy người VTNCS đang mất nước có quyền truy thu song tịch [Mỹ-Việt/Pháp-Việt/Úc-Việt/Gia Nã Đại-Việt], đồng thời truy sách tài vật, nhà cửa, đất nước bị tước đoạt, đánh cắp.

Vậy Đối Với Đa số Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại Thế Giới Tự do và Các Nạn Nhân Yêu Chuộng Bị Kẹt Trong Nước, ngày 30 tháng Tư 1975 phải là “Ngày Quốc Hận” vì:

Nhóm chữ “Quốc Hận” là một phạm trù, một khái niệm tổng quát bao gồm những quan hệ lịch sử, pháp lý, chính trị, tình cảm dân tộc mà chỉ người Việt — người trong cuộc — mới hiểu, mới có quyền xác định, gìn giữ như một kỷ vật linh thiêng, một dấu ấn biểu tượng gắn bó bằng máu mủ, nước mắt và hy vọng sinh tồn.

Nhóm chữ “Quốc Hận” bao gồm:

  • cảnh đau đớn, nhục nhã “mất nước” từ 1954;
  • sự hãi hùng, oán hận trong “Tháng Tư Đen” 1975 khi người dân yêu chuộng hoà bình, cố gắng bảo vệ tự do trên mảnh đất nhân bản miền Nam Việt Nam thấy rõ hậu quả của thế lực “đồng minh Hoa Kỳ” bội ước [breach of contract] kết sinh be-bờ cộng sản, xây dựng dân chủ chân chính tại mảnh đất tiền đồn trấn thủ địa chính trị này;
  • nỗi ân hận, tủi nhục khi lỡ tính, lỡ chân bị kẹt lại trong nước chìm đắm trong bể khổ của phản trắc nô lệ hoá cả một dân tộc, kẻ bị tù dày, ruồng bỏ, người bị chậm tiến, đói khát, bóc lột, trường kỳ vô gia cư, vô tổ quốc ngay tại xứ sở của mình, hay nơi đất khách quê người.

Nếu muốn chuyển hoán nhóm chữ “Ngày Quốc Hận” của Ngày 30 tháng Tư sang ngoại ngữ thì phải cân nhắc, đi sâu vào ý nghĩa căn bản, vào cái tâm của ngữ cảnh [etymological context] đa nguyên, đa dạng trên. Đó có thể là những chữ ghép tương tự của “Vietnam Mourning Day”, “Fall of South Vietnam Memorial Day”, “Vietnam calamity Remembrance Day” [Tưởng
Niệm Ngày Quốc Nạn
], “Journée Vietnamienne de Deuil National”, hay gọn gàng, sắc bén là “VC-Hatred Day” để ghi rõ sự ghét bỏ CSVN như một điều bất hạnh trọng đại; một tai ương ghê tởm về ý thức hệ thuộc tội phạm nhân loại.

Những từ ngữ hay dịch thuật như “Remembrance Day” [Ngày Tưởng Niệm] và “Ngày Tự Do” lại có vẻ quá mông lung, vô vị, không minh thị trực diện nội vụ, không đủ tầm vóc so với cảnh khốn khổ, tận cùng bi đát của Ngày 30 tháng Tư tại Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. “Tự do” ư, “Mất Mát Được Đền Bù” ư: quá nhỏ so với sự trả giá qua cao, quá đắt [hy sinh, mất mát, hãm hiếp, chết chóc]. Vài triệu người mừng hão trong nước, hay một thiểu số may mắn hưởng thụ tự do, thành đạt, tiến bộ nơi đất khách quê người làm sao so sánh bù đắp cho gần 90 triệu người Việt đau khổ, bị kẹt trong nước, đang khốn đốn, thất thểu, chịu cảnh tù đày, hủy hại dưới ách đô hộ thực dân, dã man, quỷ quyệt của CSVN.

Còn gần đây, lại xẩy ra hiện tượng vô duyên [“…đối diện bất tương
phùng”] hay “danh bất chính tất lời nói không thuận”, khi có thêm Nghị Quyết SJR 455 với “
Quyết định bởi Thượng Viện Virginia, cùng với Hạ Viện, Rằng Hội Đồng khoáng đại, định danh hiệu ngày 30 tháng Tư, 2013 và mỗi năm sau đó, là “Ngày công nhận người Nam Việt Nam tại Virginia” (RESOLVED by the Senate of Virginia, the House of Delegates concurring, That the General Assembly designate April 30, in 2013 and in each succeeding year, as South Vietnamese Recognition Day in Virginia).[12]

  • Trước hết cần cảm tạ TNS Dick Black và lưỡng viện Virginia đã tuyên dương “Ngày công nhận người Nam Việt Nam [dịch chính xác] tại Virginia” cốt để tỏ thiến chí với “thổ dân thiểu số”/ethnic group gốc “South Vietnamese” [dù thực tế là nhằm
    lấy cảm tình và số phiếu của nhóm thiểu số trong kỳ bầu cử tới. “Fair”,
    không sao, “có đi có lại mới toại lòng nhau”].
  • Tuy nhiên nhân việc này, mấy ông bà Lập Pháp của TB Virginia lại làm một tác động rất “politically incorrect” [sai
    quấy về mặt chính trị
    ]. Vô tình hay cố ý, họ đã dùng thế lực “lập pháp” để ban bố một chiêu bài tuyên dương mua chuộc hay “hối lộ cảm tình chính trị” để làm kẹt hay làm loãng uy thế văn hoá lịch sử, giáo dục của “Ngày Quốc Hận”, mà hầu hết các tổ chức cộng đồng và tổ chức xã hội dân sự gốc Việt đang nặng lòng tôn vinh. Nếu nhà lập pháp không được quyền miễn trách, TNS Dick Black và đồng liêu có thể bị khiển trách vì “cạnh tranh bất chính” không? Đương nhiên, trong một xã hội tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo và chính kiến như tại Virginia của Hoa Kỳ, ai cũng có quyền có ý kiến chân chính, tuyên bố lập trường một cách thành khẩn, nhưng được những ai hưởng ứng mới là điều quan trọng. Chúng ta hãy đợi Ngày 30 tháng Tư 2013 và những năm kế tiếp xem có bao nhiêu công dân Virginia/Hoa Kỳ gốc Việt tham dự nghi thức tôn vinh “Ngày công nhận người Nam Việt Nam tại Virginia” [South
    Vietnamese Recognition Day in Virginia
    ] thay vì “Ngày Quốc Hận”. Chắc cũng được vài chục, vài trăm người. Nhưng cũng có thể còn ít hơn, nều công dân Virginia không chịu đọc nguyên bản Anh ngữ của Resolution SJR 455, mà lại chị căn cứ vào dịch thuật phóng đại của GS Nguyễn Ngọc Bích thì chắc họ phải đợi lâu lắm mới thấy cử hành “Ngày Nam Việt Nam ” hay “Ngày VNCH” [sic], vì cả hai “pháp nhân hiến định” [legal &
    constitutional entities
    ] này chưa hề được ghi trong bất cứ Nghị Quyết hay Resolution nào đã ban hành, mà chỉ “hiện hữu” trên mạng lưới, nhờ ông Nguyễn Ngọc Bích vừa “tạo-dịch” thêm ngoài-văn-bản nguyên thủy của Resolution SJR 455. “Traduire, cest trahir/Traduttore, traditore”. Dịch là phản. “Nhị” sao đã thất bản rồi. Nói một đằng, làm một nẻo: “danh bất chính tất lời nói không thuận. Lời nói mà không thuận tất việc chẳng thành…” [Học thuyết “Chính Danh” — Khổng tử
    trong Luận Ngữ]

Muốn hiểu sự đau đớn, tủi nhục, ghê tởm của người Việt Tỵ Nạn CS và của toàn dân Việt Nam bị CSVN đô hộ, bị Trung Cộng doạ nạt, xúc phạm, hành hạ hằng ngày thì người Mỹ, người Âu Châu và người Do Thái phải vạch rõ, coi rõ, nhớ lại, nhớ mãi [chứ
không “liếm”
] vết thương đau kinh hoàng của chính họ, của dân tọc họ. Đó là những Ngày Xâm Chiếm [Occupation] các Thủ Đô Âu châu của Đức Quốc Xả, của Nga Xô trước và sau Đệ Nhị Thế Chiến; Mùa Tưởng Nhớ Holocaust của toàn dân Do Thái [dù họ có quốc tịch Pháp, Đức, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, v.v.]; và gần đây Ngày Khủng Bố September 11 ngay tại thị trấn New York, ngay trong “lòng đất” của Hoa Kỳ. Dan Rather ngày hôm đó lên đài CBS khóc và tự hỏi “Why did the terrorists hate America so much theywanted to destroy it?” [Tại sao quân khủng bố thù ghét Hoa Kỳ quá độ đến nỗi muốn
tiêu diệt đất nước này?] Tại sao lại có “Ngày Quốc Hận/Quốc Nạn” kiểu này ngay tại Hoa Kỳ? Hỏi tức tự trả lời vậy.

Những người Việt Tỵ Nạn CS và tất cả những người Việt Nam tự trọng, yêu chuộng hoà bình, tự do nhân bản bị kẹt trong nước ngày hôm nay mà còn cố tình hay vô tình phủ nhận hay ngờ vực Ngày 30 tháng Tư là “Ngày Quốc Hận”, thì quả thật họ có “vấn đề”, hoặc lú lẫn nên dễ quên, hay có sạn trong đầu nên chậm hiểu, chậm tỉnh ngộ. Chúng ta không cần đếm xỉa tới những con xâu nhị trùng, ăn bám, ăn thừa cặn bã các đại gia mafia CSVN. Họ chỉ là trò cười của chính họ. Tự hề. Tự thải.

4. KẾT LUẬN

Xin nhắc lại và nói thật rõ: Ngày 30 tháng Tư 1975 không hề giành lại độc lập và chủ quyền cho dân tộc, cho đất nước, khi đảng Cộng Sản Việt Nam từ 1950 tới 1975 đã dựa vào Trung Cộng quá nhiều, nên sau đó phải trả nợ. Hậu quả là Việt Nam, từ ranh giới, núi rừng, biển đảo, tới toàn bộ chính quyền đang mất dần vào tay Trung Cộng. Như vậy, không những chỉ người dân miền Nam Việt Nam — kẻ thua trận sau ngày 30 tháng Tư 1975 —, mà là cả dân Tộc Việt Nam đã và đang “mất nước”, mất tự do, hạnh phúc, an sinh, mất danh dự làm người có căn cước gốc Việt chân chính, tử tế, nhân đạo.

Sự thật vẫn là sau 38 năm lang bạt khắp nơi trên thế giới, Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản và con cháu họ đã đã thu hồi tự do và lẽ sinh tồn với giá hy sinh rất đắt, vượt bực. Dù họ và con cái họ đã trở thành những phần tử hài hoà, ưu tú nơi họ tới lập nghiệp, hội nhập, thân phận họ, căn cước họ vẫn thuộc “gốc tỵ nạn/refugees”, đầy ám ảnh hà hiếp, đầy thương tích ngược đãi cộng sản. Con của người viết là một luật sư thuộc LSĐ New York và được chọn làm khoa trưởng tại một Đại Học Hoa kỳ, trong phần “Tóm lươc Tiểu sử/Résumé/Curriculum Vitae” đã ghi mình có “Refugee DNA”: Thân phận máu mủ mình có “thông tin di truyền Tỵ Nạn”.

Trong tinh thần đó, người Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản có đủ thẩm quyền lịch sử, truyền thống và pháp lý [có gia phả gốc gác, căn cước, thẻ tùy thân, sổ thông hành,
chứng minh thư sở hữu tài sản, quốc tịch v.v.] để nói mình “mất nước”, bị tước đoạt căn cước, thân phận và tài sản, và do đó có đủ tư cách kêu gào, công bố, nhắc nhở, bảo trọng “Ngày Quốc Hận”. Những người trong cuộc, những phần tử của tập thể nạn nhân cần bảo trọng hành vi trọng đại, cao thượng của người Việt còn khí phách tôn trọng lịch sử oan trái, còn cố gìn giữ ngày lễ “mặc niệm” linh hồn tử sĩ đã hy sinh cho tổ quốc, cho “cố quận”, cho dân tộc. Việt Nam Cộng Hoà bị bức tử, dân tộc bị chết oan, tù đày, nô hoá mãi mãi phải được ghi nhận là một Quốc Nạn trong dòng lịch sử Việt.

Đến ngày nay, 38 năm sau ngày 30 tháng Tứ 1975, đa số người Việt trong và ngoài nước không hề quên những tội ác của CSVN, những hành vi bất nhân, những bạo hành ám hại dân, phá hoại đất nước của một chế độ tồi tệ, gian ác, nhiễm trùng, nhiễm độc. Và đến ngày nay, đa số Người Việt Tỵ Nạn CS không hề a tòng với kẻ phạm pháp, và cũng không hề mong muốn Cộng Sản tiếp tục thao túng trên đất nước hay phá hủy dân tộc Việt Nam ở bất cứ đâu.

Đúng, tuy Hiến Pháp Việt-Rừng-Rú vẫn ngoan cố duy trì Điều 4 và những điều kế tiếp tương tự, thực tình thì bè lũ hậu duệ của đám thờ phụng “Tư Tưởng và Đạo Đức Hồ Chí Minh” [sic] không còn là thứ cộng-sản-chính-thống hay chính-quy-đội-nón-cối-đi-dép-râu nữa, nên đã có người nhẹ dạ hay cận thị đã tự nhủ “chả cần chống cộng làm gì … khi không còn cộng”!? Nhưng thật ra, chúng ta vẫn còn nhu cầu gạt bỏ cái tổ hắc đảng cường hào ác bá của thế kỷ 21, cái băng đảng mafia tư bản đỏ vua chúa lỗi thời đó, dù họ có đổi danh tính, bôi phấn quét vôi để tân trang căn cước hay nguỵ tạo nhãn hiệu. Họ vẫn là họ, vẫn ác với dân, hèn với giặc; vẫn cho công an đánh đập dân oan; vẫn bỏ tù công dân vô cớ; vẫn tước đoạt từ cái đinh, cục đất của dân, từ bạc cắc tới bạc tỷ của thiên hạ. Họ hết là tên du kích lái xe đạp đi đấu tố để tự lột xác và tự thăng cấp thành ngài đại gia, quan ủy viên, ngài bộ trưởng vung tay bán nước hay sách nhiễu vô chừng. Đã tới lúc vở tuồng “Hát Bộ” lai căng Tớ-Tầu này chấm dứt. Nhưng vẫn cần có người “trong cuộc” —người dân Việt — ra tay kéo màn, nậy nọc độc.

Chỉ khi CSVN cáo chung, khi toàn dân Việt Nam truy hồi lại đất nước, đòi được lại ranh giới, núi rừng, biển đảo; truy sách lại tài sản, tự do, nhân phẩm ngay trên xứ sở mình; và dõng dạc tuyên bố trả lại sự thật cho lịch sử và tư tưởng Việt, chỉ lúc đó, giai đoạn đó mới hết có “Ngày Quốc Hận”.

TS LS Lưu Nguyễn Đạt

Virginia, USA, April 26, 2013

www.vietthuc.org

CHÚ THÍCH:

[1] Học thuyết “Chính Danh”, tuy được Khổng tử phát huy cách đây hơn 2500 năm, vẫn còn giá trị tới ngày nay, tùy theo hoàn cảnh nhân bản, xã hội, lịch sử thích ứng. Ý niệm và các tiêu chuẩn căn bản của thuyết “Chính Danh” vẫn là:

  • Khổng tử nói: “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử.” Nghĩa là vua phải ra vua, bề tôi phải ra bề tôi, cha phải ra cha, con phải ra con. Tức là người nào ở vị trí nào thì phải ứng xử ở vị trí đó, không được lẫn lộn, không được tùy tiện, phải tuân theo phép tắc, quy củ của xã hội đã quy định.
  • Thuyết chính danh của Khổng Tử khi ứng dụng trong việc trị nước còn mang phán quyết “giết một bạo chúa là giết một tên thất phu” của Mạnh, bắt bọn cầm quyền phải có đức, phải thương dân”. Chừng nào mà vua còn làm tròn thiên mệnh, nhân dân dưới quyền cai trị của vua được hưởng hòa bình và hạnh phúc thì đó là vua hiền, con người vua là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Muốn như vậy vua còn phải làm tròn trách nhiệm của một ông vua. Trái lại, nếu đó là một ông vua ác độc, mà sự cai trị hà khắc, thất đức, làm cho nhân dân điêu đứng khổ sở, thì ông vua ác đó đã đánh mất chính danh của thiên mệnh và có thể bị mất luôn ngôi vua; nhân dân có quyền chính đáng nổi dậy, lật đổ ông vua ác độc đó và cử người khác lên thay thế.
  • Ngày hôm nay, Vua là các nguyên thủ quốc gia, các vị tổng thống, thủ tướng, những nhà cầm quyện tối cao nhưng vẫn phải thượng tôn luật pháp, bảo trọng ý dân, thực thi nhân nghĩa. Mạnh tử đã từng phán: “Hại nhân, hại nghĩa là quân tàn tặc; giết quân tàn tặc là giết một đứa thất phu, một tên dân quèn. Nghe nói giết một tên thất phu tên là Trụ, chứ chưa nghe nói giết vua.”
  • Học thuyết “Chính Danh” của Khổng tử không chỉ được áp dụng trong lĩnh vực chính trị, cai trị, mà còn được ông áp dụng trong cách gọi tên sự vật, đồ vật, ý niệm. Sách Nho giáo có câu chuyện về cái bình đựng rượu được gọi là cái “cô”. Thời trước Khổng tử, cái bình đựng rượu có cạnh góc người ta gọi là cái “cô”. Đến đời Khổng tử, người ta làm cái bình đựng rượu bỏ cạnh góc đi mà vẫn gọi là cái “cô”, Khổng tử không hài lòng về tên gọi này vì theo ông, nếu cái bình đựng rượu muốn được gọi là cái “cô” thì phải phục hồi hình dạng cũ của nó. Còn nếu không thì gán cho nó một cái tên mới mà không gọi là cái cô nữa. [Khổng
    Tử
    , Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn Hóa 1995]. Do đó, “…Người quân tử có điều gì mình không biết thì bỏ qua mà không nói. Nay danh bất chính tất lời nói không thuận. Lời nói mà không thuận tất việc chẳng thành… Cho nên người quân tử quan niệm được danh ắt nói ra được, mà nói ra được tất làm được. Người quân tử nói ra điều gì nên dè dặt không cẩu thả được!” [Học thuyết Chính Danh — Khổng tử
    trong Luận Ngữ]

[2] Mường Giang “Ba Mươi Lăm Năm Sau 30-4-1975 : Kissinger Xác Nhận “ Hoa Kỳ Tự Trói Tay Để Thua CSVN Chứ Không Do VNCH”

[3] “Kennan and Containment, 1947″, Diplomacy in Action, U.S. Department of State; See: TS LS Lưu Nguyễn Đạt, Chủ Nghĩa Be-Bờ & Chiến Tuyến Việt Nam

[4] Kort, Michael (2001). The Columbia Guide to the Cold War. Columbia University Press.

[5] Referring to communism in Indochina, U.S. President Dwight D. Eisenhower put the theory into words during an April 7, 1954 news conference: Finally, you have broader considerations that might follow what you would call the “falling domino” principle. You have a row of dominoes set up, you knock over the first one, and what will happen to the last one is the certainty that it will go over very quickly. So you could have a beginning of a disintegration that would have the most profound influences.

[6]MacArthur, North Korea. Truman’s No-win policy.

[7]Nixon, Richard (1978). RN: The Memoirs of Richard Nixon. Simon & Schuster.Also Text of President Nixon’s radio and television broadcast announcing the initialing of the Paris ‘Agreement on Ending the War and Restoring Peace in Vietnam’.

[8]Effect of the containment: The solution, Kennan suggested, was to strengthen Western institutions in order to render them invulnerable to the Soviet challenge while awaiting the eventual mellowing of the Soviet regime.

[9]Pursell, C. (1972). The military-industrial complex. Harper & Row Publishers, New York, New York.

[10]President Dwight Eisenhower, farewell speech to the nation, January 17, 1961

[11]Television brought the brutality of war into the comfort of the living room. Vietnam was lost in the living rooms of America — not on the battlefields of Vietnam.” MARSHALL MCLUHAN, Montreal Gazette, May 16, 1975

[12] GS. Nguyễn Ngọc Bích, “30/4 Năm Nay, Virginia Đi Đầu Trong Việc Công-Nhận Ngày Nam Việt-Nam” [Bản dịch sang
Tiếng Việt] & 2013 SESSION, SENATE JOINT RESOLUTION NO. 455 Designating April 30, in 2013 and in each succeeding year, as South Vietnamese Recognition Day in Virginia [Original text,
English].

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Nguyễn Hưng Quốc- Trí thức và độc tài-Một người lương thiện mà cộng sản thì chắc chắn không thông minh.

Xin chuyển

Tôi thấy bài viết khá. Đúng là bọn độc tài tham lam, độc ác và huyễn hoặc. Đám dân chúng khờ, nghe chúng: không ngạc nhiên vì bị nhồi sọ. Nhưng còn đám trí thức hải ngoại?

Vậy chỉ có thể kết luận: trí thức nào theo cộng sản là thứ TRÍ THỨC NGU!

HOÀNG NGỌC AN

Posted in Uncategorized | Leave a comment

TS Nguyễn V Lương-Trung Cộng sẽ sụp đổ ở tương lai, chúng ta cần hành động để VN CS sụp mau chóng

Xin giới thiệu bài nói chuyện của TS Nguyễn Văn Lương năm 2012. Bài dài và mong quý vị dành thời gian đọc.

Chúng tôi tóm tắt những nét chính:

  • Hoa Kỳ thường có “điều chỉnh kinh tế” từ 8-10 năm.
  • Năm 1991, Trung Cộng đổ hàng vào Mỹ. Năm 2004, Mỹ bắt đầu “điều chỉnh kinh tế” với TC. Khủng hoảng bất động sản xảy ra ở các tiểu bang sau: Arizona, California, Florida, và Neveda. Đầu 2008, AIG, Merill Lynch, and Leman Brothers khai phá sản, thì các chủ nợ ngoại quốc cũng chung số phận. Chủ nhân của TRÁI PHIẾU (US Bonds) tung ra, Hoa Kỳ có dip thâu hồi trái phiếu hợp pháp mà không phải trả tiền lời.
  • HK đưa tỉ lệ thất nghiệp lên cao với lý do bị ảnh hưởng bởi kinh tế TC. Với số lượng thất nghiệp này, HK không còn có nhu cầu tiêu thụ khối hàng TC khổng lồ nhập cảng nữa, dù rẻ mạt. Thế là HK đã chận được sự tiêu thụ hàng hóa TC. Từ đó nhiều công ty TC phá sản.
  • Để đối phó sự phá sản, có thể sụp đổ, TC làm được gì? Gây chiến tranh thế giới;, một phong trào phản chiến chống chính phủ ở Mỹ; một phong trào chống chính phủ vì thất nghiệp; tìm đồng minh thế giới; phá hoại kỹ thuật của Hoa Kỳ: tất cả đều Không.
  • Việt Nam CS nằm kề cận TC nhưng lại là quốc gia nhận viện trợ không chính thức từ Hoa Kỳ. Mỹ sẽ dung dưỡng tình trạng trên cho đến hồi chung cuộc của TC.
  • Chúng ta cần có thái độ là không viện trợ cho VNCS dưới bất cứ hình thức nào. Không nên chờ đợi TC sụp hay chờ đợi 1 chính phủ Nguyễn Tấn Dũng thân Mỹ.
  • Sự chờ đợi sẽ bất lợi vì: 1)mất tài nguyên, 2)TC đồng hóa, 3) nhân tài hải ngoại sẽ chết, thế hệ gạch nối sẽ mòn, (những gạch nối, móc nối tốt để tái thiết cho VN); 4) lực lượng đấu tranh và người dân trong nước sẽ thiếu đi điểm tựa đấu tranh vững chắc;
  • Tóm lại, chúng ta phải làm ngay để đưa VN trở lại vị trí “Hòn Ngọc Viễn Đông”. Chúng ta làm được vì : 1) Có chuyên viên giỏi, họ có tài và có sự móc nối với các chuyên gia bản xứ; 2) HK hiện diện ở Đông Nam Á 3) Tái phố trí của Nhật, Phi, Singapoor, Úc. 4)hệ thông tài chánh của VC đang trở ngại trầm trọng. 5) VN có lực lượng người Việt hải ngoại mạnh mẽ đang ở khắp nơi trên thế giới.
  • Nhìn chung thì
  • · Đài Loan bị hất ra khỏi Liên Hiệp Quốc mà vẫn làm được, giữ được đất nước của họ, tại sao Việt-Nam chúng ta không làm được?.
  • · Do Thái đơn độc đối diện với khối Trung Đông được, giữ được chủ quyền được, tại sao Việt-Nam chúng ta không làm được?.
  • · Cộng đồng tị nạn Cuba thay đổi nước Cuba được, vì quyết định không gửi tiền về Cuba,
  • Người Cuba ở Mỹđã quyết định không gửi tiền từ năm 2003 và 2009, Cuba đã phải thay đổi chính sách.

Hoàng Ngọc An

Trung Cộng Giao động

Thay Đổi Việt-Nam

Tiến sĩ Nguyễn Văn Lương

(ghi chép buổi nói chuyện
trên Paltalk 30-4-2012)

Sự Điều Chỉnh Kinh Tế Năm 2004 của Hoa Kỳ

Năm 1991, sau sự sụp đổ của Liên Bang Sô Viết vì sự chạy đua không gian với Hoa Kỳ (HK), hàng hóa Trung Cộng (TC) bắt đầu ồ ạt xuất cảng vào Hoa-Kỳ, đánh dấu sự “chạy đua” kinh tế giữa“hai anh hùng không sống chung một quả đất” bắt đầu.

Cứ mỗi tam cá nguyệt, kể từ khi giao thương với TC, Hoa-Kỳ luôn luôn báo cáo sự bất quân bình mậu dịch với quốc gia mà thế giới ai cũng biết là Hoa Kỳ đã giúp đỡ để được mang danh là một“siêu cường TC” ngang hàng hoặc sẽ vượt qua kinh tế Hoa-Kỳ trong thập niên sắp tới.

Thời gian trôi di, cả hai thập niên, sự thương lượng quân bình kinh tế bế tắc, khiến TC lầm tưởng rằng, chính phủ Hoa Kỳ không còn đường lối nào khác hơn là ngậm đắng nuốt cay, phải chấp nhận sự nhập cảng hàng hóa TC càng ngày càng gia tăng, để người dân HK có được một cuộc sống căn bản cao phải tùy thuộc vào hàng hóa TC vì rẻ mà không quốc gia nào trên quả điạ cầu này cạnh tranh được.

Khi biến cố 911 (năm 2001) xảy ra cho 2 tòa nhà của Trung Tâm Thương Mại Thế Giới (World Trade Center) tại NữuƯớc, thế giới bàng hoàng, người dân Mỹ ngẩn ngơ, và khi TT Bush quyết-định đưa quân trừng phạt Iraq và A Phú Hãn, thì lãnh tụ Trung Cộng mở tiệc ăn mừng, vì nghĩ rằng, Hoa Kỳ sẽ bị sa lầy vào một chiến tranh mà có thể còn khốc-liệt hơn cả chiến tranh Viet-Nam nữa. Do đó, họ đã âm thầm khuyến khích gia tăng sản xuất để xuất cảng bành trướng sang châu Âu vì nghĩ rằng, họ chế ngự được thị trường HK, thì những quốc gia Âu Châu không có gì là đáng kể.

Chính vì thế, giới thương gia đổ tiền của vào sản xuất với rất nhiều tín dụng cá nhân, và với sự bóc lột lao động tối đa nên có lợi điểm với gía cả rẻ mạt, hàng hóa TC tràn ngập Mỹ và Âu Châu trong khoảng thời gian ngắn kỷ lục.

Đến năm 2004 là năm mà HK bắt đầu sửa chữa thị trường theo “thứ tự” của kinh tế thế giới . Theo kinh nghiệm, tại HK, cứ 8 đến 10 năm một lần, HK phải “điều chỉnh” kinh tế để “quân bình” tài chánh hầu tránh sự kinh tế sụp đổ tương tự diễn ra cho thế giới vào năm 1930s, và sự điều chỉnh này dài hay ngắn, nhanh hay chậm, là tùy thuộc vào sự chênh lệch tài chánh của HK trong sự giao thương của khoảng thời gian liên quan đó. Chúng ta cũng nên biết rằng, kể từ khi người Việt tị nạn đặt chân đến HK sau chiến tranh VN năm 1975, Hoa-Kỳ có 4 lần điều chỉnh:
(1) Đầu thập niên 80s, điều chỉnh với nền kinh tế Nhật Bản,
(2) đầu thập niên 90s thì thế giới tự do “đóng góp hơn 100 tỉ” trợ giúp HK trong chiến tranh Trung Đông,
(3) Cuối thâp niên 90s thì sự đầu tư vào sự khai thác mạng lưới (internet developments) sụp đổ, tiền mất của người đầu tư vào những công ty bị phá sản này, trở thành tài sản của HK… Trong thời gian này,
(4) HK có kế hoạch “điều chỉnh” kinh tế với TC, nhưng chưa áp dụng thi biến cố 911 xảy ra, khiến bị trì hoãn đến năm 2004, khi TT Bush tuyên bố phải áp dụng 3 điều căn bản chính để gia tăng xuất cảng, đó là:
(1) giảm trị giá Dollars để khuyến khích ngoại quốc mua hàng HK vi rẻ hơn;
(2) phải giảm tiền lời đề khuyến khích những công ty HKđược vay rẻ thi sản xuất rẻ và nhiều hơn, và
(3) phải tạo điều kiện dễ dàng để người dân HK có cơ hôi làm chủ chính căn nhà của họ… đó chính là giai đoạn khai hỏa “trừng phạt” TC bắt đầu.
Kế hoạch của TT Bush nêu trên đã làm trương mục của những “chủ nợ” của HK (điển hình là TC) bị xuống giá, tiền lời lại không có (cần phải nói là giai đọan này là thời kỳ đen tối của những người sống bằng lợi tức chắc chắn, cố định, những công dân HK về hưu, hưởng tiền già và sinh sống tại nước ngoài), Thêm vào đó, những đại công ty đầu tư của HK như AIG, Leman Brothers, Merrill Lynch có đưa ra những kế họạch, chương trình đầu tư khá hấp dẫn, đáng tin cậy, “không” bảo đảm nhưng rất “an toàn” đó là đầu tư vào bất động sản tại HK như hệ thống ngân hàng HK đã và đang áp dụng: vì chủ nhân ngôi nhà phải có bảo hiểm khi mượn nợ nên không sợ bị hư hỏng, người mua nhà đặt cọc tiền nên phải cố gắng gìữ nhà, không bỏ hoang,.. giá nhà tại HK luôn luôn lên giá… và với tiền lời 5%, 7% cố định, cho cả 30 năm thì không phải lo lắng về tiền lời nữa…

Do đó, khi điều căn bản (3) của TT Bush được áp dụng thì người dân đổ xô đi mua nhà nhưng thực tế chỉ xảy ra tại 4 tiểu bang nóng bỏng nhất, đó là: Arizona, California, Florida, và Neveda… vì dân chúng những tiểu bang khác có những ước mơ về đây sinh sống khi lớn tuổi, khiến giá nhà tăng nhanh một cách khủng khiếp do kết quả số lượng CUNG-CẦU chênh lệch nhau quá sức tưởng tượng.

Và tất cả nợ nần của những ngôi nhà mới bán này được bán cho những chủ nợ ngoại quốc giàu có dưới hình thức của “Mortgage Notes” …cho đến khi trái bóng nhà cửa bị nổ tung vì giá quá cao vào đầu năm 2008, AIG, Merill Lynch, and Leman Brothers khai phá sản, thì các chủ nợ ngoại quốc cũng đành chung số phận, phải ngậm đáng nuốt cay vì đầu tư vào bất động sản rất “an toàn” tại HK, ôm những căn nhà tráng lệ bị bỏ rơi bởi chủ nhân làm tài sản, còn tiền để dành đã chạy hết vào ngân hàng dự trữ Hoa Kỳ một cách hợp pháp…

Thêm vào đó, khi Thống Đốc Ngân Hàng Bernanke yêu cầu quốc hội HK gia tăng nợ nần ngân sách quốc gia cho HK thêm 1 trillion dollars nữa, thế giới kinh hoàng vì hiểm lầm là HK nợ nần quá nhiều nên không thể trả nợ nổi, khiến bao nhiêu chủ nhân của TRÁI PHIẾU (US Bonds) tung ra bán hết với giá thật thấp, để lấy tiền mua vàng. Vì số CUNG nhiều hơn số CẦU (HK mua lại 800 tỉ mà thôi); do đó, Hoa Kỳ có dip thâu hồi trái phiếu một cách hợp pháp mà không phải trả tiền lời cho những trái phiếu này… và giá vàng trên thế giới đã lên rất cao vì nhu cầu đòi hỏi của người có tiền của…không tin tưởng vào trị giá của US dollars nữa, chỉ vì không hiểu rằng căn bản tiền tệ của HK căn cứ vào tín dụng, có nghĩa là HK đã khá hơn, có khả năng trả nợ thêm 1 trillion dollars nữa…

Là một siêu cưòng, HK không thể không thi hành những luật lệ kinh tế quốc tế mà những quốc gia đã ký ước…Thi dụ Hoa Kỳ không thể cấm hàng hóa TC nhập cảng vào HK , chính vì thế, HK phải có những phương pháp khác để hàng hóa TC không có người tiêu thụ. Do đó, HK không ngần ngại đưa tỉ lệ thất nghiệp của quốc gia này lên cao, thật cao, với lý do bị ảnh hường bởi kinh tế TC không hợp tác. Với số lượng thất nghiệp này, HK không còn có nhu cầu tiêu thụ khối hàng TC khổng lồ nhập cảng nữa, dù rẻ mạt…

Trung Cộng Bị Phá Sản, Có Thể Tan Rã như Nga Sô?

Và tổng số thất nghiêp cao của xứ cờ hoa này sẽ còn kéo dài trong những năm sắp tới cho đến khi sự “quân bình kinh tế” được giải quyết. Đó cũng là lúc Dollars sẽ lên giá và vàng sẽ xuống giá như dầu lửa dưới thời TT Clinton (vì vàng cũng chỉ là món hàng trao đổi, HK không dùng vàng làm kim bản vị cho tiền dollars của nước HK); và đây cũng là giai đoạn cuối cùng của nền kinh tế suy thoái HK.

Khi hàng hóa sản xuất để xuất cảng bị ứ đọng, không phải là nhu yếu phẩm của quốc gia, tiền lương lao động TC thấp nên không có mãi lực trong nước, khiến nhiều công ty TC bị phá sản;

Sự thất nghiệp (không có trợ cấp như HK) gia tăng, đã và đang tạo những sự xáo trộn xã hội lớn tại TC, và có chiều hướng gia tăng. Thêm vào đó, sự rút lui của giới tư bản HK vì luật thuế vụ áp dụng cho những công ty có chi nhánh tại hải ngoại, sẽ làm cho tình trạng lao động TC gặp nhiều khó khăn hơn. Chính phủ TC biết rõ điều này, nhưng không công nhận sự thực, chỉ cố gắng đổ lỗi cho lãnh đạo yếu kém, tham nhũng, hối lộ nên có những kế hoạch thanh trừng với mục đích chính là củng cố địa vị trong giai đoạn đen tối của quốc gia mà không thể tránh nổi.

Nói một cách khác đi, TC sẽ phải đối diện với một giai đoạn cực kỳ khó khăn trong nội bộ, mà nguy cơ có thể đưa đến một sự tan rã như Liên Bang Sô Viết, cáo chung chủ thuyết cộng sản trên qủa địa cầu.

Lẽ dĩ nhiên, lãnh đạo Trung Cộng sẽ không ngồi yên, họ cũng có những đường lối “ngoại giao” để làm nhẹ gánh bớt cho tình hình nội bộ của TC như:

1. TC sẽ tạo chiến tranh thế giới để giải quyêt kinh tế nội bộ? – Điều này không thể xảy ra, vì với vũ khí quá tối tân mà con chim đầu đàn của thế giới tự do, sẽ không cho phép TC làm được chuyện này… Và nếu có, sự thiệt hại không thể hủy diệt được toàn cầu, hoặc sẽ không lôi kéo những quốc gia khác vào chiến tranh, mà ngược lại, có rất nhiều sự bất lợi cho chính TC. Chúng ta cần phải hiểu rằng, khi HK thỏa hiệp với Nga-Sô để hủy bỏ vũ khí nguyên-tử, thì họ phải có những vũ khí khác hiệu nghiệm hơn và chính xác hơn…
2. TC mong chờ có một phong trào chống chính phủ HK vì thất nghiệp cao? – cũng rất khó vì HK có cả trăm ngàn công ăn việc làm mà nhân công HK cần phải huấn luyện khá hơn để được tuyển dụng… có hơn 12 triệu việc làm lao động mà những người cư ngụ bất hợp pháp Mễ Tây Cơ đang làm… nếu cần phải thay thế bằng lực lượng lao động HK
3. TC cũng mong có những cuộc biểu tình phản chiến chống chiến tranh của người dân HK lan tràn khi gia tăng quân sự ỏ DNA? – chuyện này sẽ không bao giờ xảy ra, vì thái độ lạnh lùng, ngạo mạn của lãnh tụ TC trong những chuyến thăm TC để điều đình thương mại của TT tài chánh và TT Obama; khiến truyền thông HK có những sự bất lợi cho TC, hàng loạt tài liệu kêu gọi tẩy chay hàng hóa của TC vì thiếu tiêu chuẩn sản xuất trong số đó, sự vi phạm vệ sinh là chính thức… và người dân HK thức tỉnh là quốc gia nguy cơ, cũng như kết quả thất nghiệp đã và đang đến từ ảnh hưởng kinh tế của TC
4. Tìm đồng minh thế giới chăng? – Không có, nhìn từ Đông sang Tây, từ Mỹ, Phi, và Á châu: phong trào chống TC lan tràn và gia tăng. Sự đồng lòng của những quốc gia thành lập Trans-Pacific Economic Partnerships (TPP) chứng minh cho thấy là không một quốc gia nào hưởng ứng theo TC.
5. Không theo kịp sự tiến bộ kỹ thuật, TC có những kế hoạch gia tăng quốc phòng, và những chương trình phá hoại kỹ thuật HK – Điều này TC đã và đang làm, có chiều hướng gia tăng nhưng tỉ lệ thành công rất thấp… Gia tăng quốc phòng thì cả trăm năm nữa cũng không bằng HK… Phá hoại kỹ thuật HK chăng? Nhìn những kết qủa trong qúa khứ, WTC bị phá hủy hoàn toàn, 133 hệ thống ngân hàng thế giới với số tiền trao đổi vài trillion dollars hàng ngày, chúng ta có nghe đến những sự than phiền, mất mát, thiếu hụt không? những hệ thống điện toán thương mại của công ty HK có dễ dàng bị xâm chiếm không??? Thì không cần phải bàn đến sự tinh vi về kỹ thuật của bộ Quốc Phòng, Quân Sự HK mà TC có đủ khả năng phá rốí.

Tóm lại, Trung Cộng không thể chống đỡ bằng những biện pháp trên.

Việt Nam Cộng Sản trong “ràng buộc với Trung Cộng” và nhận viện trợ không chính thức từ Hoa Kỳ

Nhìn về thể chế chính trị và xã hôi Viêt Nam, chúng ta phải đồng ý rằng TC và VN có những sự tổ chức và ràng buộc với nhau. Có khác đi, VN có được một ưu điểm duy nhất mà TC không có, đó là một quốc gia nhỏ bé nhưng có được sự trợ giúp“không chính thức”, có kế hoạch của chính phủ HK với mục đích tách rời VN ra khỏi ảnh hưởng của TC, nên số tiền của người Việt tị nạn gửi về VN có chiều hướng gia tăng đã được làm ngơ.

Số tiền này chính là sư quyết đinh sống còn cùa chế độ hiện hữu. Nói như thế, không phải là HK chấp nhận chế độ CSVN hiện tại, mà chỉ muốn kéo dài sự “yên ổn” của VN cho đến hồi kết cuộc của TC. Nhưng ngược lại, VN có một vị trí bất lợi là nằm bên cạnh TC nên bị áp lực và ảnh hưởng rất lớn của quốc gia này.

Nếu so sánh VN và Cuba, nguời dân tị nạn Cuba có dược những lợi điểm trong sự đấu tranh thay đổi thể chế Cuba, vì nước này nằm trên một vị trí chỉ cách bờ biển HK hơn 90 dậm anh (160 Km), nên không có quốc gia CS đàn anh nào bén mảng đến gần; và với một tổ chức kinh tế xuất nhập cảng, phát triển mạnh mẽ hầu như bao trùm tất cả Nam Mỹ (một khối người nói tiếng Tây Ban Nha (Spain)) của cộng đồng tị nạn Cuba tại Little Havana (Miami, Florida), cộng đồng Cuba có ảnh hưởng rất lớn với chính phủ HK. Chính vì thế, nhà cầm quyền nước Cuba gặp rất nhiều khó khăn vì sự đấu tranh của khối người tị nạn Cuba đó.

Là người VN, chúng ta cần phải nhận thức rằng, Chúng ta đã bị CSVN lừa đảo quá nhiều rồi và chờ đợi vì những sự lừa đảo đó, hết thủ đoạn này đến đường lối khác, dùng MTGPMN là công cụ đánh phá miền Nam, dùng nơi học tập làm trại tù để nhốt những người có khả năng chỉ huy lãnh đạo,,,thay đổi sự lãnh đạo để người miền Nam mơ tưởng có sự cởi mở, và bây giờ dùng gia đình Nguyễn Tấn Dũng để tạo sự mơ tưởng một chính phủ thân Mỹ nên có những sự “yên ổn” kéo dài chờ đơi… (vì chờ đợi Dollars gửi về, vì có những suy diễn chính phủ Nguyễn Tấn Dũng là chính phủ thân Mỹ, nên HK sẽ trở lại VN…)…

Chúng ta cũng cần biết thêm rằng, Hitler bị kết án là một kẻ độc tài sắt máu, nhưng ông ta chỉ giết người Do Thái trong giai đọan chiến tranh, còn chế độ CSVN hiện tại, giết người dân của chính dân tộc mình, mà giết trong thời bình, không chiến tranh, thí chúng ta nghĩ sao về chế độ này?… Chúng ta cũng biết rằng, TC sẽ gặp nhiều khó khăn trong giai đọan sắp tới, không đấu tranh CSVN cũng phải thay đổi vì quan thày của chúng suy xụp, nhưng những sự kéo dài chờ đợi của người dân VN trong giai đoạn này là mắc mưu chế độ cầm quyền, vì họ chỉ mong có thế để biến đổi tình thế khi có dip.

Việt Nam Có Nên Chờ Đợi TC sụp hay Chờ 1 Chính Phủ Thân Mỹ?

Nói khác đi, sự chờ đợi sẽ không có những lợi điểm cho đất nước chúng ta, cũng như sự chờ đợi cho đến ngày TC sụp đổ để thay đổi VN thì e rằng qúa trễ,vì những lý do sau đây:
1) Tài nguyên bị tịch thu bán cho ngoại quốc để trục lợi của bè nhóm chế độ hiện hữu: Đã không biết bao nhiêu mẫu đất từ Bắc xuống Nam của người dân bị tịch thu bán cho ngoại quốc làm sân golf (!), khu kỹ nghệ… mới đây nhất là Bắc Giang, Hưng Yên; cũng như tài nguyên thiên nhiên Bô Xit thuộc vùng cao nguyên, Dà Lạt… người dân trong nước có chống đối nhưng không hiệu quả.

2) Sự đồng hóa sẽ nhanh chóng của TC: với con số hơn 200 triệu đàn ông không có đàn bà để lấy làm vợ của kết qủa cách mạng văn hóa Mao Trạch Đông từ năm 1960s, thì lượng di dân của khối người này đến VN phải xảy ra…qua những hình thức như nhân công, du lịch đến VN dài hạn… để tìm vợ; hoặc trong tương lai di dân vì lý do an-ninh, kinh tế..

3) Thiếu khả năng, thiếu sức mạnh của một quốc gia khiến VN mất dần tài nguyên ngoài khơi, và hải sản… hoặc người lãnh đạo sẽ bán ăn chia những tài nguyên cho ngoại quốc khai thác như những lãnh đạo của những quốc gia độc tài Lybia, Trung Đông…

4) Nhân tài VN của hải ngoại già yếu hoặc qua đời, VN sẽ mất đi những khả năng chuyên môn, tiền của, đặc biệt là những gạch nối, móc nối tốt đề tái thiết cho VN và những quốc gia có người Việt hải ngoại cư ngụ… lực lượng đấu tranh và người dân trong nước sẽ thiếu đi điểm tựa đấu tranh vững chắc

5) Sự thiếu dinh dưõng, không có điều kiện căn bản sống của môt quốc gia VN lạc hậu, chỉ biết có ăn để mà sống, trực tiếp tạo điều kiện rất khó khăn cho sự tiến bộ của đất nước, sự mạnh mẽ của xã hội… người dân chết dần mòn theo thời gian mà không có năng xuất…

Tóm lại Chúng Ta Phải Làm Gì?

Chinh vì thế, chúng ta cần phải thay đổi VN càng nhanh càng tốt…và cần phải chuẩn bị gấp cho một đường lối chính trị của VN trong tương lai, phải có lập trường dứt khoát: ai là bạn, ai là thù, không nên đúng chàng hảng, lòng thòng, đúng giữa, chia phe nhóm thủ lợi…vì những khía cạnh này chì phí tổn thêm nhân sự và thời gian mà thôi. Những người phục vụ đất nước trong tương lai phải nghĩ đến quyền lợi chung của dân tộc Viêt-nam khi quyết đinh.

Chúng ta không ngồi chỉ đọc lại nhũng chồng tài liệu cũ, lấy những sự chỉ trích Henry Kissinger là sự suy luận để thỏa mãn là chúng ta đã làm đúng, 40 năm nhìn lại đểchúng ta có những trận chiến oai hùng trên chiến trường, đổ lỗi cho đồng minhđã làm sai…

Nói như thế, không có nghĩa là tôi phủ nhận những gía trị tài liệu, hoặc những chiến công hiển hách của miền Nam; vì cha của tôi cũng là môt quân nhân của liên đoàn 1 BĐQ, học khóa đầu tiên tại Dục-Mỹ, em thứ hai của tôi là một chiến sĩ trẻ của trường Thiếu Sinh Quân, và trước ngày này của năm 1975, là một Thiếu Uý của ĐĐ Trinh Sát Sư Đoàn 2… Nhưng tôi thấy, chúng ta ngồi ôn lại lịch sử nhưng chúng ta không áp dụng những gì đã có kết qủa oai hùng, chiến công lừng lẫy, cho một kế hoạch nào đó để tìm một phương pháp giải thể chế độ hiện tại mà ngược lại, chỉ để mãn nguyện, phô trương thành tích…như những vị có bằng cấp khoa bảng nổi tiếng mà không hành nghề… thậm chí mua bằng giả để hãnh diện,,, vì tôi thấy có những quân nhân cấp cao đã quên đi sự nhục nhã trong trại tù cài tạo, quên đổng đội của mình, đi Việt nam hí hố một cách trơ trẽn; hoặc nịnh bợ, luồn cúi vì quyền lợi cá nhân, không biết nhân phẩm của chính mình, và đơn vi mình đã phục vụ. đã hãnh diện.

Tôi muốn nói đến những gì chúng ta có kinh nghiệm và hãnh diện, phải được phải đem ra áp dụng để thay đổi một nước VN hiện tại, nơi vẫn còn kẻ thù của chúng ta đang cai trị, đang đàn áp 90 triệu người dân lành. Trong số đó, gần 30 triệu người chúng ta đã bảo vệ khi đang cầm súng, và chúng ta đã có giấc mơ giải phóng phần còn lại sống đói khổ tại miền bắc Viet Nam trước năm 1975 … và quên đi rằng chúng ta đã không có những lãnh đaọ giỏi giang, những sức mạnh của chính quốc gia mình để hợp tác với ngoại bang, mà không bị ngoai bang chi phối…Hãy nhìn Đài Loan và Do Thái là những thi dụ cho đất nước…

Do đó, ngay bây giờ đây, lúc này hơn bao giờ hết, chúng ta phải biết là HK đến DNA chứ không trở lại VN, và chúng ta cần phải làm những gì nhân cơ hội này để có một sự thay đổi VN hiện tại. Những sự chờ đợi khiến HK và ngoại quốc hiểu lầm là chúng ta bằng lòng vối chế độ hiện tại, chấp nhận những gì đang có. Do đó, chúng ta phải nghĩ đến những yếu tố chính, những gi chúng ta làm được, để thay đổi VN càng sớm càng tốt, chỉ có nhưthế, chúng ta mới hãnh diện với những gì chúng ta đã có, bắt đầu cải thiện cuộc sống cho người dân VN, và đưa VN trở lại vị trí “hòn ngọc của Viễn Đông”.

Chúng ta làm được vì chúng ta có nhiều ưu điểm:

1) Chúng ta có một khối chuyên viên hùng hậu trên thế giới, có thể nói là chỉ thua nước Hoa Kỳ. Kinh nghiệm của những chuyên viên này, hấp thụtừ Dông sang Tây, từ quân sự đến dân sự, từ văn phòng đến hầm mỏ, từ tài chánh đến kỹ thuật… họ không những chỉ có tài mà có tiền nữa, công thêm một gía trị vô giá là có sự móc nối với những đầu óc chuyên gia của người dân bản xứ… Chính vì thế, nếu đồng lòng, không có gì là chúng ta không làm được…

2) Hoa-Kỳ hiện diện trong vùng Đông Nam Á. Đây là một điểm rất thuận lợi… Nhìn trên bản đồ thế giới, từ Nato đến Nam-Hàn, sự hiện diện của HK khiến có sự ổn định. Sự ổn định mang đến sư dễ dàng phát triển của quốc gia… Đó là chưa kể đến sự tái phối trí hiện hữu dài hạn của quân đội HK từ Nhật Bản, Phi Luật Tân, Singapore, va Úc Đại Lợi (Trong thời gian gần đây, Phi Luật Tân đã chứng tỏ lập trường rõ ràng để được vị trí đó; và lãnh tụ PLT chứng tỏ rất khôn ngoan khi có quyết định này). Giả sử rằng năm 1954, TT Ngô Đình Diệm yêu câu HK đóng ở vĩ tuyến 17, hoặc năm 1975, chế độ CSVN hiện tại, mời HK đọ quân ở biên giới Việt-Hoa thì đất nước VNđâu có tệ hại, người dân đâu có lầm than như bây giờ.
3) Người dân từ Bắc xuống Nam bất mãn, đói khổ lầm than, họ rất mong HK trở lạì VN, mơ ước một sự thay đổi cho VN,

4) Hệ thống tài chánh VN gặp trở ngại một cách khá trầm trọng, cố gắng trả tiền lời cao để chiêu dụ người ký thác (deposits) nhưng khó rút tiền ra (withdrawal) khi cần đến
5) Nước VN có đươc một bộ “Ngoại Giao” vững chắc vì sự hiện diện của người tị nạn tại những nơi cưngụ hậu thuẫn… nói chung là của một Cộng Đồng Việt-Nam lớn Hải Ngoại

Đầu tiên, chúng ta phải làm những gì?

Như đã trình bày ở trên, VN có một lợi đíểm hơn TC, đó là nguồn lợi tức gửi về VN của người dân tị nạn. Nếu không có nguồn lợi này, chế độ VN và ngườì dân có những lợi điểm cũng như sẽ đối diện với rất nhiều khó khăn như sau:

1) VN không có sư giao thương với quốc gia lân cận một cách mạnh mẽ: Không có Dollars, những quốc gia này không mang hàng hoá thừa thãi, vi phạm luật lệ đển bán rẻ cho VN (thay vì phế thải,,,); người dân VN không phải mua những hàng hóa có danh mà không có phẩm chất tốt, có thể không nguy hại tức khắc nhưng ảnh hưởng lớn cho sức khỏe trong tương lai

2) Công An, Quân Đội, công quyền nhà nước… không có cơ hội hối lộ, sách nhiễu dân để có lợi cho cá nhân vi hệ thống tham nhũng, hối lộ ỏ VN quá tệ hại. Họ không còn lý do “đoàn kết”, bám víu nhau để thủ lợi nữa

3) Việt kiều không du lịch Việt Nam thì làm gì có phe nhóm, hối lộ của Hải Quan trong phi trường Tân Sơn Nhất

4) Nền thương mại giả tạo có được trong VN là kết qủa luân lưu của tiền người Việt gửi về sẽ bị bế tắc như TC hiện tại vì không có mãi lực

5) Sự cấm xử dụng Dollars và vàng (áp dụng từ 25 tháng 5 năm 2012) trên thị trường sẽ giúp chế độ kìm chế sự lạm phát giả tạo nhưng sẽ bất lợi cho người Việt trong nước làm chủ những“hàng quốc cấm” này. Thí dụ, khi thân nhân của người Việt hải ngoại nhận tiền dollars từ ngân hàng hay từ một nơi trung gian nào đó, những nơi này có thể tố cáo người nhận tiền để được thưởng hoặc để tránh sự liên lụy. Do đo, gửi tiền về than nhân tại VN có thể tạo sự khó khăn (hôi lộ, tịch thu…) hoặc nguy hiểm (vì bị cướp bóc…)

6) Không có Dollars, VN không còn giao thưong với nước ngoài, vì tiền VN không còn được công nhận nhiều nơi

Người Việt hải ngoại, phải hợp tác với người dân đang sống cực khổ tại VN, phải có kế hoạch vô hiệu hóa những nguồn lợi tức gửi về VN.

1. Hoa Kỳ có kế hoạch để người dân không xử dụng hàng hóa TC, Người Việt chúng ta phải có kế hoạch tảy chay hàng hóa nhập cảng từ VN

2. Vi danh dự của người dân quân Miền Nam, nếu chúng ta còn hãnh diện về qúa khứ, còn ngẩng mặt lên ngạo nghễ khi VN thay đổ, ngay từ bây giờ chúng ta phải tự thi hành nhữngđiều sau đây:

a. Không du lịch VN như người Cuba đã và đang còn áp dụng cho đất nước của họ

b. Không gửi tiền nhiều về VN (chỉ $50.00 /tháng như người tị nạn Cuba đã thi hành từ năm 2003)… Năm 1954, chúng ta còn nhớ, hàng triệu người miền Bắc di cư vào Nam không có sự trợgiúp nào nhưng vẫn sinh sống được

c. Không ủng hộ,không quyên góp cho những tổ chức từ thiện, tôn giáo, những tổ chức danh nghiã tại VN …

3. Không gửi tiền, thân nhân không bị theo dõi, ăn cướp, ăn trộm, có khi bị nguy hiểm đến tánh mạng vì có dollars

4. Thât là mâu thuẫn khi chúng ta có những thỉnh nguyện thư yêu cầu chính phủ HK không viện trợ, trợ cấp, qùa tặng khi biến cố, thiên tai như bão lụt, mà chúng ta lại trực tiếp hoặc gián tiếp chuyển về VN hàng tỉ dollars. Số tiền này chiếm khỏang 1/3 ngân khoản tài chánh CSVN hàng năm… Sự tự nguyện không gửi tiền, không du lịch VN sẽ làm chế độ đang cầm quyền khốn đốn từ quốc nội (vi không có mãi lực) đến đối ngoại (vì không có hối đoái)… Nếu cá nhân chúng ta vô ý thức với lý do ở những xứ tự do chúng ta muốn làm gì thì làm, thi tôi xin đề nghị với những đoàn thể chính trị, tôn giáo, cộng đồng…hãy hoạt động, sinh hoạt một cách hiệu quả hơn trong đường lối đấu tranh của đoàn thể mình, bằng cách vận động chính phủ nơi quốc gia mình đang cư ngụ, ban hành những Đạo Luật cấm gửi tiền, cấm du-lịch về VN, …

Không do dự, vì những băn khoăn không gửi tiền của chúng ta là những băn khoăn của đồng bào tị nạn Cuba, của chính phủ HK từ giữa thập niên 1980s, nhưng họ đã thi hành, bây giờ họ đã rất vui mừng vìđã quyết định làm như thế vào năm 2003, để đến năm 2009, Cuba phải thay đổi chính sách.

Còn những người trong nước, chúng tôi biết được những khó khăn của qúi vị, đang sống trên đe, dưới búa. Nhưng không có nghiã là không làm được, trong mọi cuộc cách mạng, muốn có sự thay đổi, phải có sự hy sinh… ngồi chờ đợi thì sự chết chóc cũng sẽ đến với tốc độ chậm hơn mà thôi… Ngày xưa, những kẻ đang ngồi trên đầu quí vị đã áp dụng “du kích chiến” đánh phá để chiến thắng, thì ngày nay, quí vị cũng áp dụng ngược lại để thay đổi cuộc sống của chính quí vị. Từng phường, từng xã, từng ấp,,, đêm nào cũng có sự tổn thương vì kết quả của những anh hùng du kích, thì tinh thần công an, quân đội nhân dân, bọn cường hào ác bá cũng phả tìm cách lo thân, và quí vị dần dần sẽ chủ động…

Những người cầm bút, những nhà chính trị (lãnh đạo hoặc không lãnh đạo), và những người quan tâm đến nước VN cần phải thay đổi sự phân tách, suy diễn, phê bình của chính mình… Không nên nói về người khác, phóng đại những tài liệu để thỏa mãn cá nhân, đoàn thể… mà nên phân tách rút tỉa những kinh nghiệm đưa đến những gì chúng ta có thể làm được, thi hành được, phải chủ động…và có lợi cho chính quốc gia của chúng ta…

Khi gặp những khó khăn, phải được bàn cãi, tìm một phương pháp đồng nhất đề giải quyết. Những người quan tâm thay đổi VN cần phải có ưu tiên chung để cùng quyết định và thi hành thì sẽ không tốn nhiều công sức cũng như vật chất. Đừng lấy cái sai của người làm điều hãnh diện cho mình, mà phải xét đoán chúng ta đã làm được gì từ kết qủa đó..

Hãy dẹp chữ TÔI mà hãy dùng chữ CHÚNG TA, đừng cho rằng ý kiến của mình đúng mà phải nghĩ đến quyết định chung đem đến kết quả nào tốt nhất cho đất nước Viêt Nam về cả hai phương diện: đối nội cũng như đối ngoại.
· Đài Loan bị hất ra khỏi Liên Hiệp Quốc mà vẫn làm được, giữ được đất nước của họ, tại sao Việt-Nam chúng ta không làm được?.

· Do Thái đơn độc đối diện với khối Trung Đông được, giữ được chủ quyền được, tại sao Việt-Nam chúng ta không làm được?.

· Cộng đồng tị nạn Cuba thay đổi nước Cuba được, vì quyết định không gửi tiền về Cuba, tại sao tị nạn Việt-Nam chúng ta không làm được?

Hay là chúng ta không muốn VN thay đổi vì những sự du lịch gia-tăng, và người Việt Kiều hí hố quá nhiều, nếu có thay đổi người dân trong nước sẽ biết rõ bộ mặt thật của Việt Kiều? hoặc nếu có sự thay đổi thực sự thì các ngài du lịch VN sẽ hết hí hố?, chẳng lẽ chúng ta ích kỷ chỉ nghĩ đến cá nhân chúng ta như vậy sao?

Chúng ta phải suy nghĩ kỹ càng và tìm hưóng đi cho chính chúng ta, và cho Việt-Nam của chúng ta! Điều phải làm ngay từ bây giờ là không du lịch và gửi tiển về Viêt-Nam! Người Việt trong nước khẳng định không nhận tiền tù nước ngoài gửi về dù nhiều hay ít!

Và ngưòi viết cũng tin chắc rẳng, với sự hợp tác của người Việt trong và ngoài nước, chỉ trong một tương lai gần, rất gần, nước Việt Nam sẽ được kính phục khắp Năm châu trong đó có cả kẻ thù của VN tại Phương Bắc! đó là Trung Cộng.

Nguyễn Văn Lương

Florida 4/2012

Posted in Uncategorized | Leave a comment